Năng lượng: Giá dầu thô giảm nhẹ
Phiên giao dịch cuối tuần, giá dầu đồng loạt tăng trở lại trên cả 2 sàn giao dịch London và New York sau báo cáo tích cực về thị trường việc làm của Mỹ khiến giới đầu tư lạc quan hơn về triển vọng tăng trưởng nhu cầu tiêu thụ của nền kinh tế lớn nhất thế giới.
Kết thúc phiên cuối tuần, giá dầu thô ngọt nhẹ (WTI) giao tháng 9/2017 trên sàn New York tăng 55 US cent (1,1%), lên 49,58 USD/thùng; dầu Brent giao tháng 10/2017 trên sàn London tăng 41 US cent (0,8%), lên 52,42 USD/thùng.
Báo cáo vừa được Bộ Lao động Mỹ công bố cho hay, nền kinh tế số 1 thế giới đã tạo thêm 209.000 việc làm mới trong tháng Bảy vừa qua, cao hơn mức dự báo của các nhà phân tích. Số việc làm mới gia tăng đã giúp tỷ lệ thất nghiệp giảm xuống còn 4,3%.
Ngoài ra, báo cáo cùng ngày của công ty dịch vụ dầu khí Baker Hughes cho thấy số giàn khoan dầu đang hoạt động tại Mỹ trong tuần này đã giảm 1 chiếc, xuống 765 giàn, cũng góp phần hậu thuẫn giá dầu.
Tuy nhiên, tính chung cả tuần qua, giá dầu WTI và dầu Brent vẫn giảm lần lượt 0,3% và 0,4% do giảm mạnh ở những phiên giữa tuần.
Tuần quá thị trường dầu thô đã chứng kiến những thời điểm biến động mạnh. Phiên đầu tuần giá vọt lên mức cao nhất 2 tháng, vượt quá 50 USD/thùng khi khả năng Mỹ áp đặt lệnh trừng phạt đối với lĩnh vực dầu mỏ của Venezuela. Tuy nhiên, giá giảm trở lại khi điều lo sợ đó không xảy ra.
Những phiên tiếp theo, việc OPEC và Mỹ đều gia tăng sản lượng đang đe dọa ảnh hửơng tiêu cực tới thị trường dầu mỏ. Sản lượng dầu của Mỹ hiện đạt 9,43 triệu thùng/ngày, mức cao nhất kể từ tháng 8/2015 và tăng 12% so với mức thấp của tháng 6 năm ngoái, còn OPEC đã khai thác khoảng 33 triệu thùng/ngày trong tháng 7, tăng 90.000 thùng/ngày so với tháng trước.
Dự kiến, trong cuộc họp hai ngày vào tuần tới (7-8/8), OPEC sẽ tập trung thảo luận cách thức để tăng mức độ tuân thủ thỏa thuận cắt giảm sản lượng.
Kim loại quý: Giá vàng giảm nhẹ
Phiên giao dịch cuối tuần, giá vàng giao ngay tại New York giảm 0,8%, xuống 1.257,66 USD/ounce; vàng giao tháng 12/2017 cũng hạ 0,8%, xuống 1.264,60 USD/ounce. Tính chung cả tuần, giá vàng giao ngay giảm 0,9%, chấm dứt chuỗi 3 tuần tăng giá liên tiếp, trong khi vàng giao tháng 12/2017 giảm 0,4%.
Những kim loại quý khác hầu hết cũng giảm giá trong phiên cuối tuần, với bạc giảm 2%, xuống 16,28 USD/ounce, sau khi chạm mức thấp nhất 2 tuần; palađi giảm 0,6%, xuống 879,45 USD/ounce; riêng bạch kim lại tăng 0,1%, lên 961 USD/ounce, ghi dấu tuần tăng giá mạnh nhất kể từ đầu tháng 1/2017.
Thông tin tích cực về thị trường việc làm tháng 7 của Mỹ đã khiến giá vàng giảm trong phiên cuối tuần bởi đó là một trong những cơ sở để Fed cân nhắc nâng lãi suất.
Theo Bộ Lao động Mỹ, thị trường lao động nước này tạo thêm 209,000 việc làm mới trong tháng 7, cao hơn dự báo của hầu hết các chuyên gia kinh tế, đưa tỷ lệ thất nghiệp giảm xuống 4,3%.
Tuy nhiên, nhìn chung giá vàng duy trì ở mức khá cao trong suốt cả tuần. Phó Chủ tịch Cục dự trữ Liên bang Mỹ (Fed), Stanley Fischer nhận định rằng sự bất ổn xung quanh chính sách của Mỹ có thể khiến các doanh nghiệp trì hoãn các dự án kinh doanh cho đến khi môi trường chính sách trở nên rõ ràng hơn. Ngân hàng Standard Chartered cho rằng, những căng thẳng địa chính trị và số liệu kinh tế vĩ mô còn nhiều điểm yếu kém của Mỹ là những yếu tố hỗ trợ cho giá vàng. Trong khi đó, giới phân tích cho rằng tiền lương tăng chậm lại và lạm phát “ì ạch” đã làm giảm khả năng Fed tiếp tục tăng lãi suất trong năm nay.
Nông sản: Giá đường giảm, cà phê tăng
Phiên cuối tuần giá đường giảm nhẹ, với đường thô giao tháng 10 trên sàn New York giảm 0,17 US cent tương đương 1,2% xuống 14,14 US cent/lb, tính chung cả tuần giá giảm 1,6%, giảm mạnh nhất trong vòng 6 tuần. Đường trắng phiên cuối tuần giá cũng giảm 1,9 USD tương đương 0,5% xuống 386,90 USD/tấn.
Thời tiết khô hạn ở Brazil có thể ảnh hưởng tới sản lượng đường của nước này trong ngắn hạn, nhưng triển vọng dài hạn vẫn rất khả quan, theo nhận định của McDougall.
Cà phê arabica giao tháng 9 giảm 0,05 US cent so với phiên trước đó trong phiên cuối tuần, tương đương 0,04% xuống 1,4015 USD/lb; Tuy nhiên tính chung cả tuần giá vẫn tăng nhẹ. Hợp đồng giao ngay đã tăng tuần thứ 6 liên tiếp. “Xuất khẩu từ Brazil giảm chắc chắn sẽ khiến nguồn cung trên thị trường thế giới trở nên khan hiếm”, báo cáo của ING viết, và cho biết thêm rằng xuất khẩu từ nước này tháng 7 xuống mức thấp nhất 12 năm.
Cà phê robusta gia tháng 9 cũng giảm 3 USD trong phiên cuối tuần, tương đương 0,14% xuống 2.141 USD/tấn.

Giá hàng hóa thế giới

Hàng hóa

ĐVT

29/7

5/8

5/8 so với 4/8

5/8 so với 4/8 (%)

Dầu thô WTI

USD/thùng

49,71

49,58

+0,55

+1,12%

Dầu Brent

USD/thùng

52,52

52,42

+0,41

+0,79%

Dầu thô TOCOM

JPY/kl

35.370,00

35.520,00

+520,00

+1,49%

Khí thiên nhiên

USD/mBtu

2,94

2,77

-0,03

-0,93%

Xăng RBOB FUT

US cent/gallon

167,61

164,63

+1,44

+0,88%

Dầu đốt

US cent/gallon

163,97

164,86

+0,97

+0,59%

Dầu khí

USD/tấn

485,00

488,00

-4,00

-0,81%

Dầu lửa TOCOM

JPY/kl

49.840,00

49.780,00

+40,00

+0,08%

Vàng New York

USD/ounce

1.275,30

1.264,60

-9,80

-0,77%

Vàng TOCOM

JPY/g

4.504,00

4.471,00

-10,00

-0,22%

Bạc New York

USD/ounce

16,70

16,25

-0,38

-2,27%

Bạc TOCOM

JPY/g

59,80

58,30

-0,70

-1,19%

Bạch kim giao ngay

USD/t oz.

935,33

964,23

+0,13

+0,01%

Palladium giao ngay

USD/t oz.

882,54

878,08

-7,87

-0,89%

Đồng New York

US cent/lb

287,50

288,50

+0,70

+0,24%

Đồng LME 3 tháng

USD/tấn

6.325,00

6.372,00

+20,00

+0,31%

Nhôm LME 3 tháng

USD/tấn

1.907,00

1.910,50

-5,50

-0,29%

Kẽm LME 3 tháng

USD/tấn

2.776,00

2.812,00

+20,00

+0,72%

Thiếc LME 3 tháng

USD/tấn

20.600,00

20.510,00

-140,00

-0,68%

Ngô

US cent/bushel

388,00

381,00

+3,25

+0,86%

Lúa mì CBOT

US cent/bushel

481,00

454,75

-3,00

-0,66%

Lúa mạch

US cent/bushel

291,75

284,25

-1,50

-0,52%

Gạo thô

USD/cwt

12,42

12,33

-0,05

-0,44%

Đậu tương

US cent/bushel

1.013,00

956,75

-3,75

-0,39%

Khô đậu tương

USD/tấn

328,50

309,40

-3,20

-1,02%

Dầu đậu tương

US cent/lb

35,02

34,03

+0,23

+0,68%

Hạt cải WCE

CAD/tấn

510,30

500,30

+2,70

+0,54%

Cacao Mỹ

USD/tấn

2.060,00

2.021,00

-65,00

-3,12%

Cà phê Mỹ

US cent/lb

137,85

140,15

-0,05

-0,04%

Đường thô

US cent/lb

14,37

14,14

-0,17

-1,19%

Nước cam cô đặc đông lạnh

US cent/lb

136,30

135,30

+2,00

+1,50%

Bông

US cent/lb

68,80

70,62

+0,46

+0,66%

Lông cừu (SFE)

US cent/kg

--

--

--

--

Gỗ xẻ

USD/1000 board feet

377,70

373,80

-10,00

-2,61%

Cao su TOCOM

JPY/kg

204,60

207,10

+0,30

+0,15%

Ethanol CME

USD/gallon

1,56

1,58

+0,02

+1,48%

Nguồn: VITIC/Reuters, Bloomberg