Năng lượng: Giá khí gas tăng, dầu đi lên tuần thứ 4 liên tiếp
Phiên giao dịch cuối tuần, giá khí tự nhiên kỳ hạn tháng 10/2019 trên sàn New York tăng 6,1 US cent tương đương 2,5% lên 2,496 USD/mmBTU, cao nhất kể từ ngày 30/5/2019.
Cũng trong phiên này, giá dầu đi lên sau khi Chủ tịch Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed), Jerome Powell, cho biết ngân hàng này sẽ hành động thích hợp để đảm bảo đà tăng trưởng cho nền kinh tế lớn nhất thế giới, trước sự thiếu chắc chắn của thương mại toàn cầu.
Kết thúc phiên, dầu Brent tăng 59 US cent (1%) lên 61,54 USD/thùng; còn giá dầu WTI tăng 22 US cent (0,4%) lên 56,52 USD/thùng.
Tính chung cả tuần, giá dầu Brent tăng 1,8%, tuần tăng thứ 4 liên tiếp, trong khi dầu WTI tăng 2,6%.
Bộ Lao động Mỹ ngày 6/9 đưa tin, thị trường lao động nước này đã tạo thêm 130.000 việc làm trong tháng 8/2019, dưới mức kỳ vọng của giới chuyên gia giữa lúc cuộc chiến thương mại giữa Mỹ với Trung Quốc tiếp tục leo thang và nền kinh tế toàn cầu tăng trưởng chậm lại.
Phát biểu tại Đại học Zurich, Chủ tịch Powell cho biết, mặc dù đang có những bất ổn trong hoạt động thương mại, ông chưa nhận thấy những dấu hiệu rằng nền kinh tế Mỹ sắp rơi vào suy thoái, và Fed có trách nhiệm sử dụng các biện pháp để hỗ trợ nền kinh tế và cơ quan này sẽ tiếp tục sứ mệnh này. Tuyên bố này được đánh giá là tín hiệu về chương trình hạ lãi suất tiếp theo.
Tại một cuộc họp ở Zurich (Đức), ông Powell nói rằng báo cáo việc làm tháng Tám vẫn phù hợp với tình hình thị trường lao động khá “khỏe mạnh” tại Mỹ.
Theo nhà phân tích Staunovo, nếu căng thẳng thương mại tiếp tục leo thang, tăng trưởng nhu cầu tiêu thụ dầu có thể sẽ giảm hơn nữa, khiến giá thấp hơn nhiều. Nhà phân tích này dự báo giá dầu Brent sẽ giao dịch quanh mức 55 USD/thùng vào năm tới.Nhà phân tích Giovanni Staunovo thuộc UBS nhận định nhu cầu dầu toàn cầu có thể chỉ tăng 900.000 thùng/ngày trong năm 2019 và 2020. Trong khi đó, các dự báo khác về tăng trưởng nhu cầu dầu đã giảm xuống còn khoảng 1 triệu thùng/ngày, so với dự đoán trước đó là khoảng 1,3 triệu thùng/ngày.
Kim loại quý: Giá vàng giảm tuần thứ 2 liên tiếp
Phiên cuối tuần, giá vàng giảm do những nhận xét lạc quan của ông Jerome Powell về kinh tế Mỹ. Kết thúc phiên này, vàng giao ngay đã giảm 0,7% xuống 1.508 USD/ounce, vàng giao sau giảm 10 USD xuống 1.515,5 USD/ounce. Tính chung cả tuần, giá vàng giảm khoảng 0,7%.
Tuy nhiên, nhà phân tích thị trường cấp cao Edward Moya thuộc công ty tư vấn tài chính OANDA cho rằng triển vọng dài hạn của giá vàng nhìn chung vẫn còn mạnh mẽ, dù diễn biến có thể trồi sụt thất thường.
Những yếu tố chính hỗ trợ cho giá vàng sẽ là những biện pháp kích thích kinh tế dự kiến từ Fed và Ngân hàng Nhân dân Trung Quốc (PBoC, ngân hàng trung ương) trong thời gian tới. 
Ngoài ra, các nhà phân tích cho biết những bất ổn xung quanh quan hệ thương mại Mỹ - Trung, cùng những lo ngại về tình trạng giảm tốc trong tăng trưởng kinh tế toàn cầu và lợi suất trái phiếu chính phủ ở mức âm tại nhiều nước trên toàn thế giới đang tiếp tục hỗ trợ giá vàng lên cao hơn nữa.
Kim loại công nghiệp: Giá thiếc tăng mạnh
Phiên cuối tuần, giá đồng giảm khi Trung Quốc thúc đẩy các khoản cho vay, do tranh chấp thương mại giữa nước tiêu thụ kim loại lớn nhất và Mỹ vẫn gây áp lực thị trường. Giá đồng kỳ hạn trên sàn London giảm 0,2% xuống 5.834 USD/tấn.
Ngân hàng Trung ương Trung Quốc cho biết, đã cắt giảm khối lượng tiền mặt mà các ngân hàng nắm giữ - lần thứ 3 – trong năm nay, để giải phóng 900 tỉ CNY (126 tỉ USD) trong tính thanh khoản nhằm củng cố nền kinh tế đang chậm lại.
Đồng thời, giá thiếc kỳ hạn trên sàn London giảm 0,4% xuống 17.375 USD/tấn, đảo chiều giảm sau khi tăng mạnh được thúc đẩy bởi các nhà sản xuất thiếc tinh chế hàng đầu thế giới cắt giảm sản lượng. Tính chung cả tuần, giá thiếc tăng gần 6%, tuần tăng mạnh nhất kể từ tháng 3/2016.
Giá quặng sắt tại Trung Quốc phiên cuối tuần giảm sau 6 phiên liên tiếp tăng trước đó. Tuy nhiên, nhu cầu từ các nhà máy thép tăng khiến giá quặng sắt có tuần tăng đầu tiên kể từ cuối tháng 7/2019.
Giá quặng sắt kỳ hạn tháng 1/2020 trên sàn Đại Liên giảm 3,9% xuống 629 CNY (88,28 USD)/tấn. Tính chung cả tuần, giá quặng sắt tăng 3,5%, tuần tăng đầu tiên kể từ tuần kết thúc ngày 26/7/2019.
Đồng thời, giá thép cây kỳ hạn trên sàn Thượng Hải giảm 1,8% xuống 3.387 CNY/tấn, song tính chung cả tuần tăng 1,1%. Giá thép cuộn cán nóng giảm 2,2% xuống 3.394 CNY/tấn.
Nông sản: Giá đường và cà phê ít biến động
Phiên cuối tuần qua, giá cà phê tăng song vẫn gần mức thấp nhất 9 năm trong phiên trước đó, do các nhà bán hàng Việt Nam giữ giá sau nhiều tháng trì hoãn. Trong khi giá đường trồi sụt, mặc dù nguồn cung dồi dào.
Giá cà phê robusta kỳ hạn tháng 11/2019 trên sàn ICE tăng 23 USD tương đương 1,8% lên 1.295 USD/tấn, sau khi chạm mức thấp nhất 9 năm (1.262 USD/tấn) trong phiên trước đó. Tính chung cả tuần, giá cà phê giảm 2,9%. Giá cà phê Arabica kỳ hạn tháng 12/2019 tăng 1,65 US cent tương đương 1,7% lên 97,05 US cent/lb. Tính chung cả tuần giá cà phê Arabica thay đổi nhẹ. Giá cà phê thị trường Việt Nam không thay đổi so với tuần trước đó, với hoạt động giao dịch dự kiến sẽ vẫn chậm chạp đến tận vụ thu hoạch tới trong tháng 10/2019.
Giá đường thô kỳ hạn tháng 10/2019 trên sàn ICE tăng 0,05 US cent tương đương 0,46% lên 11,02 US cent/lb. Tính chung cả tuần, giá đường giảm 1%. Trong khi, giá đường trắng giao cùng kỳ hạn trên sàn ICE giảm 20 US cent tương đương 1% xuống 309,6 USD/tấn.
Thị trường đường dự kiến sẽ chuyển sang thiếu hụt trong niên vụ tới, song đối mặt với lượng tồn kho lớn tại Ấn Độ và Thái Lan. Trong khi đó, các nhà máy đường Trung Quốc có kế hoạch yêu cầu Bộ Thương mại nước này gia hạn thuế quan đối với nhập khẩu đường mà Bắc Kinh áp đặt trong năm 2017 để bảo vệ ngành đường trong nước gặp khó khăn.
Giá ngô tại Mỹ giảm do số liệu về xuất khẩu hàng tuần của Mỹ cho thấy ở mức không cao, và dự báo thời tiết thuận lợi tại khu vực vành đai cây trồng Trung Tây.
Giá ngô kỳ hạn tháng 12/2019 trên sàn Chicago giảm 3 US cent xuống 3,55-3/4 USD/bushel, trong phiên có lúc chạm 3,53 USD/bushel. Giá lúa mì giao cùng kỳ hạn trên sàn Chicago giảm 3-1/4 US cent xuống 4,63 USD/bushel. Giá đậu tương kỳ hạn tháng 11/2019 trên sàn Chicago giảm 3 US cent xuống 8,58-1/2 USD/bushel.
Giá dầu cọ tại Malaysia giảm do giá dầu đậu tương trên sàn Chicago qua đêm suy giảm và đồng ringgit tăng mạnh. Giá dầu cọ kỳ hạn tháng 11/2019 trên sàn Bursa Malaysia giảm 0,2% xuống 2.177 ringgit/tấn, phiên giảm thứ 3 liên tiếp trong 4 phiên. Tính chung cả tuần, giá dầu cọ giảm 2,5%, tuần giảm thứ 2 liên tiếp.
Giá cao su tại Tokyo giảm theo xu hướng giá cao su kỳ hạn tại Thượng Hải, do dư cung gây áp lực giá. Trên sàn TOCOM, giá cao su kỳ hạn tháng 2/2020 giảm 0,7 JPY (0,0065 USD) xuống 165 JPY/kg, giá cao su TSR20 kỳ hạn tháng 3/2020 ở mức 141,2 JPY/kg. Trên sàn Thượng Hải, giá cao su kỳ hạn tháng 1/2020 giảm 170 CNY (23,89 USD) xuống 11.930 CNY/tấn và giá cao su TSR20 kỳ hạn giảm 155 CNY xuống 10.190 CNY/tấn.
Giá hàng hóa thế giới

ĐVT

Giá 7/9

Giá 7/9  so với 6/9 

Giá 7/9 so với 6/9(%)

Dầu thô WTI

USD/thùng

56,52

+0,22

+0,39%

Dầu Brent

USD/thùng

61,54

+0,59

+0,97%

Dầu thô TOCOM

JPY/kl

37.270,00

+200,00

+0,54%

Khí thiên nhiên

USD/mBtu

2,50

+0,06

+2,51%

Xăng RBOB FUT

US cent/gallon

157,42

+2,82

+1,82%

Dầu đốt

US cent/gallon

190,03

+1,18

+0,62%

Dầu khí

USD/tấn

575,50

-10,75

-1,83%

Dầu lửa TOCOM

JPY/kl

55.040,00

+210,00

+0,38%

Vàng New York

USD/ounce

1.515,50

-10,00

-0,66%

Vàng TOCOM

JPY/g

5.166,00

-36,00

-0,69%

Bạc New York

USD/ounce

18,12

-0,69

-3,66%

Bạc TOCOM

JPY/g

61,80

-1,70

-2,68%

Bạch kim

USD/ounce

951,22

-8,84

-0,92%

Palađi

USD/ounce

1.542,09

-20,98

-1,34%

Đồng New York

US cent/lb

263,40

-0,80

-0,30%

Đồng LME

USD/tấn

5.833,00

-12,00

-0,21%

Nhôm LME

USD/tấn

1.791,00

+7,00

+0,39%

Kẽm LME

USD/tấn

2.328,00

-14,00

-0,60%

Thiếc LME

USD/tấn

17.375,00

-75,00

-0,43%

Ngô

US cent/bushel

355,50

-3,25

-0,91%

Lúa mì CBOT

US cent/bushel

463,75

-2,50

-0,54%

Lúa mạch

US cent/bushel

269,00

+1,25

+0,47%

Gạo thô

USD/cwt

11,97

0,00

0,00%

Đậu tương

US cent/bushel

857,75

-3,75

-0,44%

Khô đậu tương

USD/tấn

293,00

-1,50

-0,51%

Dầu đậu tương

US cent/lb

28,65

+0,01

+0,03%

Hạt cải WCE

CAD/tấn

442,80

-2,50

-0,56%

Cacao Mỹ

USD/tấn

2.277,00

+32,00

+1,43%

Cà phê Mỹ

US cent/lb

97,05

+1,65

+1,73%

Đường thô

US cent/lb

11,02

+0,05

+0,46%

Nước cam cô đặc đông lạnh

US cent/lb

102,00

-2,25

-2,16%

Bông

US cent/lb

58,58

-0,54

-0,91%

Lông cừu (SFE)

US cent/kg

--

--

--

Gỗ xẻ

USD/1000 board feet

353,60

-5,20

-1,45%

Cao su TOCOM

JPY/kg

164,60

-0,40

-0,24%

Ethanol CME

USD/gallon

1,30

-0,02

-1,44%

Nguồn: VITIC/Bloomberg, Reuters