Năng lượng: Giá dầu thô tăng
Giá dầu thế giới tuần qua biến động mạnh, giảm sâu chạm mức thấp nhất nhiều tuần vào giữa tuần nhưng tính chung cả tuần vẫn tăng nhờ đi lên vào những phiên đầu và cuối tuần.
Phiên giao dịch cuối tuần, giá dầu ngọt nhẹ của Mỹ (WTI) kỳ hạn tháng 7/2019 tăng 1,4 USD, tương đương 2,7%, lên 53,99 USD/thùng; tính chung cả tuần tăng 0,9% trong cả tuần. Trong khi đó, giá dầu Brent kỳ hạn tháng 8/2019 tăng 1,62 USD, hay 2,6%, lên 63,29 USD/thùng; tính chung cả tuần tăng 2,1%.
Giá dầu tăng mạnh trong phiên cuối tuần do chứng khoán Phố Wall tăng điểm trong bối cảnh Saudi Arabia và OPEC tiến tới nhất trí tiếp tục cắt giảm sản lượng sau tháng 6 này.
Tại một cuộc hội thảo ở Nga, Bộ trưởng Năng lượng Saudi Arabia, Khalid al-Falih, cho biết Tổ chức các nước xuất khẩu dầu (OPEC) và các đồng minh sẽ tiếp tục cắt giảm sản lượng. Ông cho biết thêm rằng OPEC đang tiến gần tới một thỏa thuận cắt giảm 1,2 triệu thùng/ngày trong sản lượng, chỉ còn phải bàn bạc thêm với các nước ngoài OPEC.
Thôn tin Tổng thống Mỹ Donald Trump có thể sẽ hoãn áp thuế lên hàng hóa của Mexico làm giảm lo ngại về khả năng nhu cầu dầu sẽ sụt giảm.
Trong khi đó, nguồn cung dầu đang bị hạn chế do Mỹ trừng phạt dầu xuất khẩu từ Venezuela và Iran. Ngày 7/6/2019, Washington gia tăng áp lực đối với công ty dầu khí nhà nước của Venezuela khi tuyên bố xuất khẩu sản phẩm diluent của các hãng xuất khẩu quốc tế cũng có thể là mục tiêu trừng phạt.
Tuy nhiên, nỗi lo về ảnh hưởng từ xung đột giữa Mỹ với Trung Quốc và Mexico vẫn còn đó. Ngân hàng Commerzbank vừa điều chỉnh giảm quý thứ 3 liên tiếp dự báo về giá dầu Brent xuống 65 USD/thùng từ mức 73 USD đưa ra trước đây.
Kim loại quý: Giá vàng tăng mạnh do cuộc chiến thương mại
Tuần qua, giá vàng thế giới được hưởng lợi từ những lo ngại rằng căng thẳng thương mại giữa Mỹ với Mexico và Trung Quốc sẽ kìm hãm tăng trưởng kinh tế toàn cầu, cũng như khả năng Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed) sẽ hạ lãi suất trong năm nay. Đồng USD xuống giá và tình hình bất ổn trên thị trường chứng khoán là những yếu tố đưa các nhà đầu tư tìm đến vàng và các kim loại quý khác.
Phiên cuối tuần, giá vàng giao ngay tăng 0,4% lên 1.339,97 USD/ounce, trong phiên có lúc giá chạm mức cao nhất trong ngày là 1.348,08 USD/ounce; vàng giao sau tăng 0,3% và khép phiên ở mức 1.346,10 USD/ounce.
Phiên này, đồng USD đã trượt xuống mức thấp nhất trong hai tháng rưỡi qua, sau khi Bộ Lao động Mỹ công bố số liệu cho thấy số việc làm ở nước này đã tăng chậm lại đáng kể trong tháng Năm và lương cũng tăng thấp hơn dự đoán. Chủ tịch Fed Jerome Powell cho biết Ngân hàng trung ương Mỹ sẽ có hành động "thích hợp" để đối phó với những rủi ro của chiến tranh thương mại. Một số nhà phân tích nhìn nhận bình luận của ông Powell “hé mở” cánh cửa Fed sẽ hạ lãi suất ít nhất một lần trong năm nay.
Về những kim loại quý khác, giá bạc tăng 1,1% lên 15,01 USD/ounce, tính chung cả tuần tăng mạnh nhất kểt từ tháng 12 năm ngoái. Giá bạch kim giảm 0,2% xuống 801,5 USD/ounce, nhưng tính chung cả tuần tăng lần đầu tiên trong vòng 7 tuần; giá palađi tăng 0,6% lên 801,5 USD/ounce.
Kim loại công nghiệp: Giá đồng giảm tuần thứ 8 liên tiếp
Giá đồng giảm trong phiên cuối tuần, góp phần thiết lập tuần giảm thứ 8 liên tiếp do bất đồng về thương mại, những dấu hiệu tăng trưởng kinh tế toàn cầu chậm lại và số liệu việc làm của Mỹ gây thất vọng. Triển vọng nhu cầu kim loại này trở nên u ám.
Kết thúc phiên cuối tuần, đồng kỳ hạn 3 tháng trên sàn London giảm 0,2% xuống 5.799 USD/tấn, tính chung cả tuần giảm 0,5%. So với thời điểm giá lên cao hồi tháng 4 (khi đạt 6.608,5 USD/tấn), giá đồng đã mất khoảng 14% bởi căng thẳng giữa Mỹ và Trung Quốc chưa kết thúc thì Tổng thống Mỹ Donald Trump đã dọa sẽ đánh thuế lên hàng hóa Mexico.
Tuy nhiên, thị trường bắt đầu dấy lên hy vọng nhiều chính phủ sẽ gia tăng kích thích kinh tế. Trung Quốc vừa thong báo những biện pháp thúc đẩy tiêu thụ ô tô sau giai đoạn thị trường này sụt giảm gần đây. Thống đốc ngân hàng trung ương nước này cũng khẳng định họ còn nhiều "room" để điều chỉnh chính sách nếu cuộc chiến thương mại với Mỹ căng thẳng thêm nữa.
Nông sản: Đường, lúa mì và cacao tăng, cà phê giảm
Giá cà phê arabica giảm trong phiên cuối tuần do khả năng sẽ dư cung trên toàn cầu. Arabica giao tháng 7/2019 giảm 1,1% xuống 1,0095 USD/lb, tính chung cả tuần giảm 3,5%, sau 2 tuần tăng liên tiếp. Trong khi đó, robusta giao tháng 7/2019 giảm 1USD tương đương 0,07% xuống 1.430 USD/tấn.
Giá đường thô giao tháng 7/2019 cũng giảm 0,01 UScent trong phiên cuối tuần tương đương 0,08% xuống 12,5 UScent/lb. Tính chung cả tuần, giá tăng 3,3%, là tuần tăng thứ 3 liên tiếp. Trong khi đó, đường trắng giao tháng 8/2019 giảm 1,7 USD tương đương 0,5% xuống 337,6 USD/tấn.
Giá cacao trên sàn New York kỳ hạn tháng 7/2019 tăng 51 USD tương đương 2,1% lên 2.478 USD/tấn, tính chung cả tuần tăng 3,3%. Trong phiên vừa qua, có lúc giá chạm mức cao nhất 11 tuần là 2.482 USD/tấn, vượt cả ngưỡng kháng cự 2.478 USD/tấn. Cacao trên sàn London cùng kỳ hạn cũng tăng 16 GBP tương đương 0,9% lên 1.798 GBP/tấn.
Thị trường đang được khuấy động bởi những dấu hiệu cho thấy nhu cầu mạnh trên toàn cầu giữa bối cảnh lo ngại sản lượng giảm ở Ghana – nước sản xuất cacao lớn thứ 2 thế giới.
Lượng cacao chuyển đến các trung tâm phân loại và niêm phong trong giai đoạn 1/10/2018-23/5/2019 chỉ đạt 751.185 tấn, giảm 4% so với năm trước.
Lượng cacao Venezuela lưu kho ở Mỹ trong tháng 5/2019 đã tăng lên mức cao nhất 5 năm nhưng không hẳn do nguồn cung tăng mà bởi các nhà xuất khẩu Venezuela cố gắng thu tiền mặt càng sớm càng tốt giữa bối cảnh Mỹ tăng cường trừng phạt ngành dầu mỏ nước này.
Giá lúa mì trên sàn Chicago tăng tuần thứ 4 liên tiếp mặc dù giảm 1,27% trong phiên cuối tuần này, do thiếu mưa ở Nga gây lo ngại năng suất sụt giảm ở nước xuất khẩu lúa mì số 1 thế giới giữa bối cảnh sản lượng ở Australia, Canada và Ukraina cũng có nguy cơ giảm do khô hạn.
Riêng phiên cuối tuần, giá ngô sụt giảm bởi lượng bán xuất khẩu thấp, đậu tương cũng giảm theo xu hướng ngô và lúa mì. Cụ thể, trên sàn Chicago, lúa mì giảm 5-1/2 UScent (-1,27%) xuống 5,04-1/2 USD/bushel, tính chung cả tuần giá tăng 0,29%; ngô giảm 4-3/4 UScent tương đương 1,13% xuống 4,15-3/4 USD/bushel, trong khi đậu tương giảm 12-1/2 US cent xuống 8,56-1/4 USD/bushel; cả 2 mặt hàng này đều giảm tuần đầu tiên trong vòng 1 tháng.
Tại Châu Âu, giá lúa mì cũng giảm trong phiên cuối tuân theo xu hướng ở Chicago và bởi đồng euro tăng giá so với USD. Tính chung cả tuần, giá lúa mì Châu Âu giảm hơn 3%.
Giá ngô và đậu tương đi xuống giữa bối cảnh các điều kiện thời tiết đầu tuần qua bắt đầu cải thiện, khi tình hình thời tiết khô ráo hơn tạo thuận lợi cho nông dân gieo trồng. Giá các mặt hàng nông sản chủ chốt còn chịu thêm sức ép từ việc Mỹ và các đối tác thương mại của nước này là Trung Quốc, Mexico chưa giải quyết được bất đồng thương mại.
Báo cáo mới nhất của Bộ Nông nghiệp Mỹ (USDA) công bố cho thấy tính đến ngày 2/6/2019, mới chỉ có 39% diện tích đậu tương được gieo trồng, thấp hơn rất nhiều con số trung bình 79% ghi nhận trong giai đoạn năm 2014-2018. Trong khi đó, 67% diện tích ngô đã được gieo trồng, cũng thấp hơn đáng kể so với mức trung bình 96% ghi nhận trong 5 năm qua.
Phát biểu với báo giới bên lề Hội nghị Bộ trưởng Tài chính và Thống đốc Ngân hàng Trung ương Nhóm các nền kinh tế phát triển và mới nổi hàng đầu thế giới (G20) ở thành phố Fukuoka của Nhật Bản, Bộ trưởng Tài chính Mỹ Steven Mnuchin ngày 8/6/2019 cho biết Washington vẫn để ngỏ các cuộc đàm phán thương mại với Trung Quốc, song bất kỳ thỏa thuận tiềm năng nào sẽ phải chờ đến thời điểm lãnh đạo hai nước gặp nhau vào cuối tháng này. Dự kiến Tổng thống Mỹ Donald Trump và Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình sẽ gặp nhau tại hội nghị thượng đỉnh G20 diễn ra từ ngày 28-29/6 tới ở Osaka, Nhật Bản.
Giá cao su trên sàn Tokyo tiếp tục tăng phiên thứ 3 liên tiếp lên mức cao nhất 3 tháng bởi lạc quan về việc Mỹ đang xem xét hoãn đánh thuế lên hàng hóa nhập khẩu từ Mexico.
Kết thúc phiên cuối tuần, cao su giao tháng 11/2019 tăng 2,1 JPY tương đương 1% lên 204,1 JPY (1,88 USD0/kg, sau khi có lúc đạt 204,8 JPY, cao nhất kể từ 7/3/2019. Tính chung cả tuần giá tăng khoảng 5%. Cao su loại TSR (chuyên dùng trong kỹ thuật) kỳ hạn tháng 12/2019 trên sàn này cũng tăng 0,2% lên 165 JPY/kg. Tương tự, trên sàn SICOM (Singapore), hợp đồng tháng 7/2019 tăng 1,4% lên 154,3 UScent/kg.
Giá dầu tăng trong phiên vừa qua và chỉ số chứng khoán Nhật – Nikkei – tăng cũng kích thích giá cao su đi lên.
Giá bông giảm hơn 4% trong phiên giao dịch cuối tuần bởi các nhà đầu tư lo ngại căng thẳng giữa Mỹ với Mexico gia tăng. Thời tiết ở những khu vực trồng ngô chính của Mỹ đã có mưa cũng gây áp lực lên giá nguyên liệu dệt may này.
Bông giao tháng 7/2019 trên sàn Chicago giảm 3 UScent tương đương 4,4% xuống 65,59 UScent/lb, giao dịch trong khoảng 65,59 – 68,72 UScent. Tính chung cả tuần, giá bông giảm 3,7%.

Giá hàng hóa thế giới

Mặt hàng

ĐVT

Giá 31/5/2019

Giá 8/6/2019

8/6 so với 7/6

8/6 so với 7/6 (%)

Dầu thô WTI

USD/thùng

53,50

53,99

+1,40

+2,66%

Dầu Brent

USD/thùng

61,99

63,29

+1,62

+2,63%

Dầu thô TOCOM

JPY/kl

38,900,00

39.120,00

+400,00

+1,03%

Khí thiên nhiên

USD/mBtu

2,45

2,34

+0,01

+0,56%

Xăng RBOB FUT

US cent/gallon

177,14

173,89

+3,13

+1,83%

Dầu đốt

US cent/gallon

184,04

182,48

+3,65

+2,04%

Dầu khí

USD/tấn

577,50

558,00

+16,00

+2,95%

Dầu lửa TOCOM

JPY/kl

56,070,00

56.290,00

+540,00

+0,97%

Vàng New York

USD/ounce

1,311,10

1.346,10

+3,40

+0,25%

Vàng TOCOM

JPY/g

4,540,00

4.652,00

+20,00

+0,43%

Bạc New York

USD/ounce

14,57

15,03

+0,13

+0,85%

Bạc TOCOM

JPY/g

51,20

52,50

+0,70

+1,35%

Bạch kim

USD/ounce

793,72

807,04

+2,28

+0,28%

Palađi

USD/ounce

1,328,30

1.360,22

+6,82

+0,50%

Đồng New York

US cent/lb

264,00

262,75

-2,30

-0,87%

Đồng LME

USD/tấn

5,830,00

5.799,00

-9,00

-0,15%

Nhôm LME

USD/tấn

1,794,50

1.764,00

-12,00

-0,68%

Kẽm LME

USD/tấn

2,524,00

2.484,00

-19,00

-0,76%

Thiếc LME

USD/tấn

18,715,00

19.225,00

-25,00

-0,13%

Ngô

US cent/bushel

427,00

415,75

-4,75

-1,13%

Lúa mì CBOT

US cent/bushel

503,00

504,50

-5,50

-1,08%

Lúa mạch

US cent/bushel

314,50

296,00

-4,25

-1,42%

Gạo thô

USD/cwt

11,46

11,73

-0,01

-0,09%

Đậu tương

US cent/bushel

877,75

856,25

-12,50

-1,44%

Khô đậu tương

USD/tấn

321,30

312,30

-3,60

-1,14%

Dầu đậu tương

US cent/lb

27,59

27,38

-0,38

-1,37%

Hạt cải WCE

CAD/tấn

459,50

464,70

-2,40

-0,51%

Cacao Mỹ

USD/tấn

2,400,00

2.466,00

+34,00

+1,40%

Cà phê Mỹ

US cent/lb

104,60

100,95

-1,10

-1,08%

Đường thô

US cent/lb

12,10

12,50

-0,01

-0,08%

Nước cam cô đặc đông lạnh

US cent/lb

108,40

106,10

-1,20

-1,12%

Bông

US cent/lb

68,08

65,51

-1,16

-1,74%

Lông cừu (SFE)

US cent/kg

--

--

--

--

Gỗ xẻ

USD/1000 board feet

305,50

315,80

+1,40

+0,45%

Cao su TOCOM

JPY/kg

194,10

204,80

-1,60

-0,78%

Ethanol CME

USD/gallon

1,51

1,48

-0,01

-0,40%

Nguồn: VITIC/Bloomberg, Reuters