Trên thị trường năng lượng, giá dầu giảm mạnh trong bối cảnh chứng khoán Mỹ suy yếu lúc đầu phiên và dự đoán sản lượng dầu thô tại Vịnh Mexico tăng trở lại sau cơn bão Barry.
Kết thúc phiên giao dịch, dầu Brent giảm 1,73 USD (2,7%) xuống 61,93 USD/thùng; trong khi dầu chuẩn Tây Texas (WTI) giảm 1,48 USD (2,6%) xuống 55,30 USD/thùng.
Theo các chuyên gia, xét về triển vọng dài hạn, giá dầu có xu hướng giảm. Hoạt động sản xuất dầu khí ngoài khơi của Mỹ đã được nối lại sau khi cơn bão Barry đi qua Vịnh Mexico vào tuần trước, gây gián đoạn hoạt động sản xuất.
Royal Dutch Shell, một nhà sản xuất hàng đầu vùng Vịnh, cho biết hôm 17/7 đã khôi phục khoảng 80% sản lượng trung bình hàng ngày tại khu vực.
Một nhân tố khác chi phối thị trường dầu mỏ là tình hình căng thẳng tại Trung Đông. Đầu phiên vừa qua, giá dầu có lúc tăng khoảng 1% sau khi Iran thông báo bắt giữ một tàu nước ngoài bị cáo buộc buôn lậu nhiên liệu tại vùng Vịnh.
Lực lượng Vệ binh quốc gia Iran thông báo bắt giữ một tàu nước ngoài chưa xác định, chở khoảng 1 triệu lít dầu lậu, tương đương 6.200 thùng, tại đảo Lark ở vùng Vịnh Persia.
Theo chuyên gia Giovanni Staunovo, phản ứng trên một lần nữa cho thấy căng thẳng tại Trung Đông vẫn chưa được giải quyết và có thể bùng phát các hành động quân sự bất cứ lúc nào. Tuy nhiên, ông cho rằng sự tăng giá này sẽ chỉ mang tính tạm thời.
Theo Báo cáo Tình trạng Dầu mỏ hàng tuần do Cơ quan Thông tin Năng lượng Mỹ công bố ngày 17/7, trong tuần kết thúc vào ngày 12/7, lượng dự trữ các chế phẩm dầu mỏ của Mỹ lại tăng đáng kể. Tổng lượng dự trữ xăng đã tăng 3,6 triệu thùng và dự trữ nhiên liệu chưng cất tăng 5,7 triệu thùng.
Giá khí đốt tự nhiên tại trung tâm giao nhận mặt hàng năng lượng Henry Hub (Mỹ) trong mùa hè này đã có xu hướng thấp nhất kể từ năm 1998 do thời tiết tương đối ôn hòa vào tháng 6, theo dự báo của Cơ quan Thông tin Năng lượng Hoa Kỳ (EIA).
Giá khí đốt tự nhiên tại New York và Chicago đều ở mức thấp 2,12 USD/mmBtu trong tháng 6, giảm lần lượt 25% và 23% so với tháng 6/2018, EIA cho biết.
EIA dự báo giá khí đốt tự nhiên Henry Hub sẽ đạt trung bình 2,37 USD/mmBtu vào tháng 6,7 và 8, giảm mạnh so với mức 2,92 USD trong mùa hè năm 2018 và mức 3,07 USD trung bình 5 năm (2014-2018). Giá trung bình hè 1998 là 2,06 USD.
EIA dự báo giá khí đốt tự nhiên Henry Hub giao ngay sẽ đạt trung bình 2,50 USD/mmBtu trong nửa cuối năm 2019 và 2,77 USD vào năm 2020.
Trên thị trường kim loại quý, giá vàng tiếp tục tăng khi đồng USD yếu đi và căng thẳng giữa Mỹ và Iran leo thang. Cuối phiên giao dịch, vàng giao ngay tăng 0,2% lên 1.430,01 USD/ounce, sau khi chạm mức cao nhất kể từ 3/7 là 1.432,20 USD/ounce; vàng giao sau tăng 0,3% lên 1.432,90 USD/ounce.
Chỉ số đồng USD, thước đo giá trị của đồng bạc xanh so với rổ các đồng tiền mạnh khác, giảm 0,08%, xuống 97,15, ngay trước khi thị trường vàng đóng cửa. Khi đồng USD yếu, giá vàng kỳ hạn thường tăng, khi vàng được định giá bằng đồng tiền này sẽ trở nên rẻ hơn đối với các nhà đầu tư mua bằng các đồng tiền khác. Trong khi đó, căng thẳng giữa Mỹ và Iran leo thang cũng làm tăng sức hấp dẫn của vàng.
Chiều 18/7, Tổng thống Mỹ Donald Trump thông báo một tàu Hải quân Mỹ đã bắn hạ một máy bay không người lái của Iran tại Eo biển Hormuz. Đây được coi là động thái mới nhất làm gia tăng căng thẳng vốn chưa có dấu hiệu hạ nhiệt giữa hai nước.
Về các kim loại quý khác, giá bạc giao tháng 9/2019 tăng 22,7 US cent, hay 1,42%, lên 16,198 USD/ounce, giá bạch kim giao tháng 10/2019 tăng 2,8 USD, hay 0,33%, lên 849,9 USD/ounce.
Trên thị trường kim loại công nghiệp, giá nickel đã chạm mức cao nhất 1 năm do hoạt động mua đầu cơ của người tiêu dùng và các nhà đầu tư. Giá nickel Thượng Hải trong một ngày nhảy vọt thêm 6%, ngày tăng thứ 9 liên tiếp. Giá nickel tại sở giao dịch LME chốt phiên đã tăng 2,8% lên 14.850 USD/tấn sau khi đã chạm mức cao nhất 1 năm là 15.115 USD/tấn.
Xu Aidong, nhà phân tích nickel chính tại Antaike, cho biết giá nickel tăng là do sản lượng thép không gỉ của Trung Quốc tăng 10% trong nửa đầu năm nay. Lệnh cấm xuất khẩu quặng nickel của Indonesia cũng đang ảnh hưởng đến giá cả mặc dù sẽ không có hiệu lực cho đến năm 2022.
Thâm hụt trên thị trường nickel toàn cầu đã lên tới 12.500 tấn trong tháng 5/2019 so với mức thiếu hụt 7.500 tấn trong tháng trước đó. Tồn kho nickel đã giảm 43% trong 12 tháng qua xuống mức thấp nhất kể từ tháng 1/2013.
Giá quặng sắt kỳ hạn tại Trung Quốc giảm do lo ngại nguồn cung tăng từ hai nước xuất khẩu hàng đầu thế giới Australia và Brazil. Giá quặng sắt kỳ hạn tháng 9/2019 trên sàn Đại Liên chốt phiên giảm 0,6% còn 889 CNY(129,20 USD)/tấn, sau khi tăng 1,3% vào đầu phiên giao dịch. Giao hàng quặng sắt từ Austraylia sang Trung Quốc đã tăng hơn 11% trong tháng 6/2019 so với một tháng trước đó.
Giá thép cây giao tháng 10 trên Sàn Thượng Hải đã giảm 1,7% xuống còn 3.968 CNY/tấn. Giá thép cán nóng giảm 1,2% xuống còn 3.861 CNY.
Trên thị trường nông sản, giá đường thô tại Chicago đã giảm xuống mức thấp nhất trong 8 tuần do nhu cầu tiêu thụ đường châu Á yếu trong khi triển vọng xuất khẩu mạnh của Ấn Độ.
Giá đường thô kỳ hạn tháng 10/2019 giảm 0,24 cent, tương đương 2%, xuống còn 11,55 cent/lb, sau khi chạm mức thấp nhất 8 tuần là 11,53 cent/lb. Trong khi giá đường trắng giao cùng kỳ hạn tăng 0,3 USD, tương đương 0,1%, đạt mức 312,60 USD/tấn.
Khả năng Ấn Độ, nước sản xuất và tiêu dùng đường lớn nhất thế giới, có thể xuất khẩu tới 8 triệu tấn, quá đủ để bù đắp lượng thiếu hụt sản xuất của các nơi khác nhưng có thể gây dư cung nếu tiêu thụ yếu.
Giá cà phê trái lại tăng nhẹ. Tại New York, cà phê Arabica giao tháng 9/2019 tăng 1,2 cent, tương đương 1,1%, đạt 1,086 USD/lb. Giá cà phê Robusta giao cùng thời hạn tăng 4 USD, tương đương 0,3%, đạt 1.427 USD/tấn.
Tại Việt Nam, giá cà phê tuần này vững ở mức tuần trước, hoạt động giao dịch trầm lắng, nguồn cung thấp. Nông dân ở Tây Nguyên chào bán cà phê nhân xô giá 34.500 - 35.000 đồng (1,49- 1,51 USD)/kg, không đổi so với tuần trước. Trong khi đó, cà phê robusta 5% đen & vỡ giá cộng 120 USD/tấn so với hợp đồng kỳ hạn tháng 9/2019 trên sàn London, so với mức cộng 90 USD/tấn cách đây một tuần.
Các thương nhân dự báo sản lượng cà phê của Việt Nam năm 2019/20 sẽ tăng 2% -3% đạt khoảng 1,9 triệu tấn, tương đương 31,67 triệu bao 60 kg. Xuất khẩu cà phê của Việt Nam trong nửa đầu năm nay đã giảm 11,5% so với một năm trước đó xuống còn khoảng 920.000 tấn.
Tại Indonesia, nguồn cung đang tăng lên nhờ vụ thu hoạch lớn ở Sumatra. Cà phê robusta loại 4 (80 hạt lỗi) chào giá cộng 150- 180 USD/tấn so với hợp đồng giao tháng 9/2019 trên sàn London, so với mức 150-200 USD/tấn trong tuần trước.
Giá cao su kỳ hạn tại Tokyo đã tăng ngày thứ 3 liên tiếp theo xu hướng giá Thượng Hải. Tại Tokyo, giá cao su giao tháng 12/2019 tăng 2,1% lên 184,2 JPY(1,71 USD)/kg. Giá cao su TSR20 giao tháng 1/2020 đạt 153,1 JPY/kg.
Tại Thượng Hải, giá cao su kỳ hạn tháng 9/2019 đóng cửa tăng 1,3% lên 10.660 CNY/tấn.Tại Singapore, giá cao su giao tháng 8/2019 chốt phiên tăng 1.2% đạt 141,8 US cent/kg.
Giá hàng hóa thế giới

ĐVT

Giá

+/-

+/- (%)

Dầu thô WTI

USD/thùng

55,30

-1,48

-2,6%

Dầu Brent

USD/thùng

61,93

-1,73

-2,7%

Dầu thô TOCOM

JPY/kl

38.840,00

-550,00

-1,40%

Khí thiên nhiên

USD/mBtu

2,30

+0,01

+0,44%

Xăng RBOB FUT

US cent/gallon

185,53

+2,11

+1,15%

Dầu đốt

US cent/gallon

188,67

+2,42

+1,30%

Dầu khí

USD/tấn

577,75

+8,75

+1,54%

Dầu lửa TOCOM

JPY/kl

56.690,00

-720,00

-1,25%

Vàng New York

USD/ounce

1.445,10

+17,00

+1,19%

Vàng TOCOM

JPY/g

4.976,00

+65,00

+1,32%

Bạc New York

USD/ounce

16,45

+0,25

+1,56%

Bạc TOCOM

JPY/g

56,40

+0,80

+1,44%

Bạch kim

USD/ounce

854,08

+1,42

+0,17%

Palađi

USD/ounce

1.526,66

-2,21

-0,14%

Đồng New York

US cent/lb

275,05

+4,05

+1,49%

Đồng LME

USD/tấn

5.983,00

+3,00

+0,05%

Nhôm LME

USD/tấn

1.854,00

+7,00

+0,38%

Kẽm LME

USD/tấn

2.465,00

-9,50

-0,38%

Thiếc LME

USD/tấn

17.845,00

-80,00

-0,45%

Ngô

US cent/bushel

429,50

-0,25

-0,06%

Lúa mì CBOT

US cent/bushel

494,75

+1,25

+0,25%

Lúa mạch

US cent/bushel

271,25

-4,00

-1,45%

Gạo thô

USD/cwt

11,83

-0,06

-0,50%

Đậu tương

US cent/bushel

899,25

+0,25

+0,03%

Khô đậu tương

USD/tấn

312,90

+0,10

+0,03%

Dầu đậu tương

US cent/lb

28,09

+0,04

+0,14%

Hạt cải WCE

CAD/tấn

444,10

-1,30

-0,29%

Cacao Mỹ

USD/tấn

2.440,00

+16,00

+0,66%

Cà phê Mỹ

US cent/lb

108,60

+1,20

+1,12%

Đường thô

US cent/lb

11,55

-0,24

-2,04%

Nước cam cô đặc đông lạnh

US cent/lb

100,50

-2,55

-2,47%

Bông

US cent/lb

62,05

+0,34

+0,55%

Lông cừu (SFE)

US cent/kg

--

--

--

Gỗ xẻ

USD/1000 board feet

334,70

+7,60

+2,32%

Cao su TOCOM

JPY/kg

184,60

+0,40

+0,22%

Ethanol CME

USD/gallon

1,45

-0,03

-2,10%

Nguồn: VITIC/Bloomberg, Reuters