Tại miền Bắc tiếp tục tăng
Giá lợn hơi tại Tuyên Quang, Phú Thọ tăng mạnh lên 61.000 - 62.000 đ/kg; tại Nam Định, Hà Nội tăng 2.000 đ/kg lên 60.000 - 61.000 đ/kg; Ninh Bình tăng tương tự lên 59.000 đ/kg; tại Yên Bái, Lào Cai giá cũng tăng đáng kể lên 55.000 - 58.000 đ/kg; tại Hưng Yên, Hà Nam, Thái Bình, Vĩnh Phúc thu mua ở mức 60.000 - 64.000 đ/kg; các tỉnh Hải Phòng, Hải Dương, Bắc Giang, Thái Nguyên trên 60.000 đ/kg. Tính chung toàn miền, giá lợn trung bình dao động quanh mức 60.000 đ/kg.
Theo thông tin từ một số người chăn nuôi ở Bắc Giang, "cò" lợn ở đây đang dẫn mối cho thương lái với giá cao kỷ lục 67.000 đ/kg; mức giá này cũng ghi nhận ở khu vực cửa khẩu Trà Lĩnh (Cao Bằng), do thương lái thu mua lợn trong dân rồi tiếp tục bán cho thương lái Trung Quốc. Những ngày gần đây, giá lợn hơi tại biên giới Việt - Trung vẫn đang tăng rất mạnh, hôm nay giá trung bình 6 tỉnh giáp ranh với Việt Nam đã tăng vọt lên 104.297 đ/kg, cao hơn 2.000 đ/kg so với ngày 9/10/2019.
Theo thông tin từ danviet.vn, ông Nguyễn Văn Trọng - Phó Cục trưởng Cục Chăn nuôi khẳng định các trạm kiểm dịch của cơ quan chức năng tại các địa phương kiểm soát rất chặt chẽ, nên sẽ khó có đường tiểu ngạch đưa lợn sang Trung Quốc, nhưng việc khan hiếm nguồn thịt lợn ở Trung Quốc sẽ làm ảnh hưởng chung cả khu vực, chứ không riêng Việt Nam. Trong khi đó, ở Đồng Hỷ (Thái Nguyên), người dân cho biết đã có người xuất bán lợn hơi với giá 65.000 đ/kg (lợn đạt trọng lượng 130kg). Tại địa bàn huyện Tam Dương (Vĩnh Phúc), hay tỉnh Hưng Yên, giá lợn hơi cũng đã cán mốc 65.000 đ/kg, tăng hơn 5.000 đ/kg so với cuối tuần trước. Ngoài ra, giá lợn hơi tại khu vực Hà Nam, Hà Nội, Tuyên Quang, Thái Bình, Nam Định hiện đạt 61.000 - 64.000 đ/kg.
Tại miền Trung, Tây Nguyên giá tăng tới 4.000 đ/kg
Quảng Bình là địa phương ghi nhận mức tăng 4.000 đ/kg, lên 49.000 đ/kg. Thanh Hoá, Nghệ An cũng tăng mạnh lên 60.000 đ/kg; các địa phương khác như Quảng Ngãi, Quảng Bình 52.000 - 54.000 đ/kg. Xuôi về phía Nam, giá lên tới 49.000 - 52.000 đ/kg; khu vực Tây Nguyên 51.000 - 57.000 đ/kg. Trung bình toàn miền, giá lợn hơi dao động trong khoảng 49.000 - 55.000 đ/kg. Nhìn chung, mặt bằng giá ở khu vực này vẫn thấp hơn 2 miền còn lại, nguyên nhân chủ yếu là do dịch tả lợn châu Phi vẫn liên tiếp bùng nổ ở nhiều địa phương, khiến bà con tiêu thụ khó khăn; cùng với đó, nhu cầu tiêu dùng thịt lợn ở các tỉnh miền Trung, Tây Nguyên cũng thấp hơn 2 miền còn lại. Đơn cử như ở Hà Tĩnh, do ảnh hưởng của dịch tả lợn châu Phi, toàn tỉnh hiện chỉ còn khoảng 378.000 con lợn với 26.000 hộ chăn nuôi, giảm gần 4.000 hộ so với thời điểm tháng 7/2019 và giảm gần 13.000 hộ so với tháng 4/2019.
Tại miền Nam vẫn trong xu hướng tăng mạnh
Tại Long An giá lợn tăng tới 5.000 đ/kg lên 54.000 đ/kg; Đồng Tháp cũng tăng mạnh 4.000 đ/kg lên 52.000 đ/kg; tại Bình Dương, Đồng Nai, Bến Tre, Trà Vinh, Tiền Giang, Bình Phước 55.000 - 57.000 đ/kg; tại Sóc Trăng, Bạc Liêu, Hậu Giang đồng loạt tăng 3.000 đ/kg lên 50.000 đ/kg; An Giang cũng tăng tương tự lên 48.000 đ/kg; Cần Thơ và Kiên Giang tăng khoảng 2.000 đ/kg lên 48.000 đ/kg.
Do giá lợn hơi tăng nhanh chóng mặt nên giá thịt lợn bán buôn tại chợ đầu mối cũng đã tăng lên mức cao nhất trong nhiều năm trở lại đây; cụ thể, tại chợ đầu mối Hóc Môn (TP.Hồ Chí Minh), giá thịt lợn mảnh loại 1 tăng lên mức 75.000 đ/kg; lợn mảnh loại 2 là 68.000 đ/kg. Giá thịt rọi được bán ở mức 73.000 đ/kg; sườn non 130.000 đ/kg; cốt lết 75.000 đ/kg; nạc dăm 85.000 đ/kg; giò trước 70.000 đ/kg... Tại các chợ bán lẻ, giá thịt lợn tới tay người tiêu dùng cũng đã tăng bình quân 5.000 đ/kg.
Ở Việt Nam, dịch tả lợn châu Phi vẫn đang bùng phát tại nhiều tỉnh, thành. Tính đến thời điểm này, trên toàn quốc đã phải tiêu huỷ gần 6 triệu con lợn. Trong khi đó, dịch bệnh vẫn chưa có dấu hiệu dừng lại khiến người chăn nuôi không dám tái đàn, bỏ trống chuồng trại.
Với một lượng lớn lợn bị tiêu hủy thời gian vừa qua dẫn đến nguồn cung hạn chế, đẩy giá lợn lên cao hơn trước. Theo dự báo của các chuyên gia, giá lợn từ giờ tới cuối năm ở ngưỡng 65.000 – 70.000 đ/kg, đây là mức giá để người chăn nuôi bù đắp lại những thiệt hại trong suốt thời gian qua, khi mà chi phí cho công tác phòng dịch ASF cũng đẩy giá thành sản xuất lên rất nhiều.
Cùng với việc giá lợn đang ở mức cao do nguồn cung thiếu hụt và nhu cầu lớn dịp cuối năm, người chăn nuôi bắt đầu có lãi và rục rịch tái đàn phục vụ dịp Tết Nguyên đán, đây là nhu cầu chính đáng và cần thiết của nhà chăn nuôi, tuy nhiên, để không mắc phải thiệt hại đáng tiếc thì việc tái đàn cần phải thực hiện chắc chắn và thận trọng, chỉ nên tái đàn, tăng đàn ở những khu vực chưa có dịch và đảm bảo an toàn sinh học.

Giá lợn hơi ngày 11/10/2019

Tỉnh/thành

Giá (đ/kg)

Tăng (+)/giảm (-) đ/kg

Hà Nội

64.000-65.000

+1.000

Hải Dương

65.000-67.000

+2.000

Thái Bình

64.000-65.000

+1.000

Bắc Ninh

64.000-66.000

+1.000

Hà Nam

63.000-64.000

Giữ nguyên

Hưng Yên

62.000-66.000

+1.000

Nam Định

63.000-65.000

+1.000

Ninh Bình

62.000-64.000

+1.000

Hải Phòng

63.000-67.000

+1.000

Quảng Ninh

64.000-67.000

+1.000

Lào Cai

63.000-69.000

Giữ nguyên

Tuyên Quang

62.000-64.000

Giữ nguyên

Cao Bằng

68.000-70.000

Giữ nguyên

Bắc Kạn

61.000-64.000

Giữ nguyên

Phú Thọ

62.000-64.000

+1.000

Thái Nguyên

63.000-65.000

+1.000

Bắc Giang

61.000-65.000

+1.000

Vĩnh Phúc

63.000-65.000

+1.000

Lạng Sơn

66.000-70.000

+2.000

Hòa Bình

61.000-63.000

Giữ nguyên

Sơn La

59.000-62.000

+1.000

Lai Châu

59.000-62.000

+1.000

Thanh Hóa

55.000-60.000

Giữ nguyên

Nghệ An

56.000-60.000

Giữ nguyên

Hà Tĩnh

47.000-55.000

+2.000

Quảng Bình

49.000-52.000

+2.000

Quảng Trị

44.000-51.000

+1.000

TT-Huế

50.000-54.000

+2.000

Quảng Nam

54.000-57.000

+2.000

Quảng Ngãi

54.000-57.000

+1.000

Bình Định

55.000-60.000

+3.000

Phú Yên

53.000-57.000

+2.000

Khánh Hòa

55.000-58.000

+2.000

Bình Thuận

56.000-59.000

+1.000

Đắk Lắk

55.000-58.000

+3.000

Đắk Nông

54.000-57.000

+3.000

Lâm Đồng

54.000-56.000

+2.000

Gia Lai

53.000-55.000

+2.000

Đồng Nai

57.000-60.000

Giữ nguyên

TP.HCM

57.000-59.000

Giữ nguyên

Bình Dương

57.000-58.000

Giữ nguyên

Bình Phước

56.000-58.000

Giữ nguyên

BR-VT

57.000-59.000

Giữ nguyên

Long An

55.000-56.000

Giữ nguyên

Tiền Giang

55.000-57.000

Giữ nguyên

Bến Tre

55.000-57.000

+1.000

Trà Vinh

54.000-56.000

+1.000

Cần Thơ

54.000-58.000

+1.000

Kiên Giang

58.000-59.000

+2.000

Vĩnh Long

55.000-58.000

+1.000

An Giang

54.000-58.000

+2.000

Sóc Trăng

52.000-54.000

+2.000

Tây Ninh

54.000-57.000

+1.000

Nguồn: VITIC