Trong rổ hàng hóa xuất khẩu sang thị trường Myanmar, sản phẩm sắt thép là mặt hàng chủ lực đạt kim ngạch 76,2 triệu USD, tăng 125,86% so với năm 2016 - nhóm hàng dẫn đầu về tốc độ tăng trưởng kim ngạch.

Đứng thứ hai là phương tiện vận tải và phụ tùng, đạt 76,1 triệu USD tăng 42,41%. Kế đến là máy móc thiết bị dụng cụ tăng 81,92%, đạt 73,77 triệu USD – đây là nhóm hàng có kim ngạch tăng đứng thứ hai sau sản phẩm từ sắt thép.

Nhìn chung, năm 2017 hàng hóa của Việt Nam xuất sang thị trường này đều có kim ngạch tăng, chiếm 76,9% và ngược lại kim ngạch giảm chiếm 23%,  trong đó clanke và xi măng giảm mạnh nhất, giảm 58,35% về lượng và 58,88% về kim ngạch tương ứng với 23 nghìn tấn; 1,02 triệu USD. Giá xuất bình quân 44,68 USD/tấn, giảm 1,26% so với năm trước.
Ngược lại, Việt Nam cũng  nhập từ Myanmar các mặt hàng như thủy sản, rau quả, cao su, gỗ và sản phẩm. Trong đó, hàng rau quả đạt kim ngạch cao nhất 33,4 triệu USD giảm 19,94% và nhóm hàng thủy sản tuy kim ngạch chỉ đạt 3,8 triệu USD nhưng tăng mạnh 109,3% so với năm 2016.
Xuất khẩu sang thị trường Myanmar năm 2017

Tên nhóm/mặt hàng

ĐVT

Năm 2017

So sánh năm 2016

Lượng

Trị giá (USD)

Lượng (%)

Trị giá (%)

Tổng

USD

 

702.957.275

 

52,28

Sản phẩm từ sắt thép

USD

 

76.200.028

 

125,86

Phương tiện vận tải và phụ tùng

USD

 

76.194.730

 

42,41

Máy móc, thiết bị, dụng cụ, phụ tùng khác

USD

 

73.770.592

 

81,92

Sản phẩm từ chất dẻo

USD

 

34.298.582

 

31,11

Kim loại thường khác và sản phẩm

USD

 

25.928.084

 

10,56

Sắt thép các loại

Tấn

31.220

20.130.205

8,69

25,61

Hàng dệt, may

USD

 

16.429.790

 

35,85

Bánh kẹo và các sản phẩm từ ngũ cốc

USD

 

10.571.788

 

0,93

Sản phẩm gốm, sứ

USD

 

6.422.684

 

-2,82

Chất dẻo nguyên liệu

Tấn

2.920

4.056.486

-9,43

-3,74

Hóa chất

USD

 

2.755.439

 

37,51

Sản phẩm nội thất từ chất liệu khác gỗ

USD

 

2.272.915

 

1,94

Clanhke và xi măng

Tấn

23.005

1.027.815

-58,35

-58,88

(Vinanet tính toán số liệu từ TCHQ)