Hoa Kỳ tiếp tục là thị trường dẫn đầu về tiêu thụ các loại giày dép của Việt Nam, xuất khẩu sang thị trường này trong 6 tháng đầu năm 2016 đạt 2,16 tỷ USD, chiếm 34,4% tổng kim ngạch, tăng 7,67% với cùng kỳ năm trước.

Đứng thứ hai về kim ngạch là thị trường Bỉ đạt 415 triệu USD, chiếm 6,6%, tăng 20,66%. Tiếp đến thị trường Trung Quốc đạt 395,2 triệu USD, tăng 13,6%, chiếm 6,3%.

Nhìn chung, xuất khẩu giày dép 6 tháng đầu năm nay sang đa số các thị trường đều đạt mức tăng trưởng dương về kim ngạch so với cùng kỳ năm trước; trong đó, tăng mạnh ở một số thị trường như: Achentina (+64%); Ucraina (+74%); Nga (+40%).

Theo Hiệp hội Da Giày Túi xách Việt Nam (Lefaso), Việt Nam nằm trong top 4 nước sản xuất giày dép lớn nhất thế giới về số lượng (sau Trung Quốc, Ấn Độ và Brazil), nhưng là nước xuất khẩu lớn thứ 3 trên thế giới về trị giá (sau Trung Quốc và Italy). Sản phẩm giày dép của Việt Nam đã xuất khẩu tới trên 50 nước, trong khi sản phẩm túi xách hiện đã có mặt tại trên 40 nước.

Ông Diệp Thành Kiệt, Phó Chủ tịch Lefaso cho biết, do dành tới 90% sản phẩm cho xuất khẩu nên việc suy thoái của kinh tế toàn cầu ảnh hưởng rất lớn đến ngành da giày và túi xách Việt Nam. Tốc độ tăng trưởng của ngành da giày năm 2015 tăng khoảng 16% so với năm 2014, tuy nhiên, trong 6 tháng đầu năm 2016, chỉ đạt tốc độ trên 7%, riêng túi xách thì tốc độ vẫn đạt được gần 14%.

Theo đánh giá từ Lefaso, việc Anh rời khỏi Liên minh châu Âu có khả năng gây thiệt hại tới kinh tế khu vực EU và nền kinh tế toàn cầu, do đó cũng sẽ gây tác động không nhỏ tới việc xuất khẩu da giày và túi xách trong thời gian tới.

Phó Chủ tịch Lefaso cho rằng, trong bối cảnh gặp khó khăn như hiện nay, để ngành da giày và túi xách Việt Nam có thể tăng trưởng ổn định trong thời gian tới, các DN cần có sự chuẩn bị tốt để tận dụng được tốt lợi thế từ các hiệp định thương mại tự do (FTAs) mà Việt Nam đã ký kết và được dự báo là sớm có hiệu lực trong một vài năm tới.

Tuy nhiên, để tận dụng được các lợi thế từ các FTA, các DN ngành da giày và túi xách Việt Nam phải đối mặt với vấn đề về xuất xứ hàng hóa, chất lượng hàng hóa; tuân thủ các điều khoản quy định về vệ sinh, môi trường, lao động và quy trình công nghệ. Điều này sẽ khiến cho các DN nhỏ và vừa của Việt Nam khó đáp ứng được yêu cầu do năng lực kỹ thuật và tài chính hạn chế, sản phẩm không đủ tiêu chuẩn để bán ra trên thị trường.

Để giải quyết những vướng mắc này, nhiều chuyên gia cho rằng, các DN Việt Nam cần tham gia vào chuỗi giá trị. Tuy nhiên, để tham gia chuỗi giá trị toàn cầu, gần như DN Việt Nam ở thế bị động, chúng ta được chỉ định, chứ không có được sự chủ động mình, muốn được nằm ở khâu nào trong chuỗi và hiện số DN Việt Nam được tham gia vào chuỗi giá trị toàn cầu cũng rất ít. Các DN sẽ chủ động được nếu như cùng tham gia chuỗi liên kết nội địa. Trong chuỗi liên kết nội địa sẽ giúp DN đáp ứng được các quy tắc xuất xứ, chủ động được nguồn nguyên liệu, nâng cao sức cạnh tranh của hàng hóa tại thị trường nội địa cũng như hướng tới xuất khẩu.

Số liệu thống kê sơ bộ của TCHQ về xuất khẩu giày dép 6 tháng đầu năm 2016

ĐVT: USD

Thị trường

6T/2016

6T/2015

+/- (%) 6T/2016 so với cùng kỳ

Tổng kim ngạch

6.274.401.512

5.852.004.686

+7,22

Hoa Kỳ

2.157.487.476

2.003.875.760

+7,67

Bỉ

415.234.738

344.133.954

+20,66

Trung Quốc

395.213.539

347.873.151

+13,61

Đức

372.615.867

342.864.925

+8,68

Nhật Bản

346.512.808

291.251.098

+18,97

Anh

310.982.410

333.032.403

-6,62

Hà Lan

276.134.941

267.880.682

+3,08

Pháp

237.294.934

212.440.446

+11,70

Italia

173.279.857

159.557.162

+8,60

Hàn Quốc

168.973.750

167.191.506

+1,07

Tây Ban Nha

128.212.891

144.769.854

-11,44

Canada

126.342.816

104.652.072

+20,73

Mexico

114.915.034

103.769.409

+10,74

Australia

89.893.459

79.799.733

+12,65

Hồng Kông

80.242.653

76.283.843

+5,19

Braxin

69.259.002

119.425.049

-42,01

Chi Lê

60.797.946

43.621.303

+39,38

Tiểu vương quốc Ả Rập TN

58.749.564

55.434.266

+5,98

Nam Phi

58.459.106

49.478.369

+18,15

Đài Loan

54.688.990

52.439.596

+4,29

Panama

50.712.809

62.010.768

-18,22

Nga

45.449.347

32.420.059

+40,19

Slovakia

42.108.289

43.857.235

-3,99

Achentina

32.646.374

19.919.279

+63,89

Séc

28.594.920

27.382.087

+4,43

Malaysia

25.973.010

21.978.716

+18,17

Đan Mạch

25.654.935

32.902.318

-22,03

Philippines

23.022.527

20.101.400

+14,53

Thụy Điển

22.937.543

23.814.275

-3,68

Singapore

22.510.960

23.623.528

-4,71

Ấn Độ

19.586.709

18.257.385

+7,28

Thái Lan

19.031.139

14.254.260

+33,51

Thổ Nhĩ Kỳ

18.969.976

20.600.548

-7,92

Israel

17.983.975

15.696.600

+14,57

Áo

17.174.418

17.007.819

+0,98

Hy Lạp

14.791.531

14.700.109

+0,62

Indonesia

12.290.020

11.393.795

+7,87

NewZealand

12.274.697

11.809.750

+3,94

Ba Lan

9.679.465

12.098.391

-19,99

Thụy Sĩ

9.273.239

9.703.721

-4,44

NaUy

8.643.999

7.144.124

+20,99

Phần Lan

8.175.033

7.095.670

+15,21

Ucraina

3.442.197

1.974.992

+74,29

Bồ Đào Nha

900.265

1.209.967

-25,60

Hungari

291.730

838.427

-65,21