Theo số liệu thống kê sơ bộ từ TCHQ, kim ngạch xuất khẩu gỗ và sản phẩm gỗ của Việt Nam trong tháng 6/2018 đạt 749,9 triệu USD, tăng 3% so với tháng 5/2018, nâng kim ngạch xuất khẩu nhóm hàng này 6 tháng đầu năm 2018 lên 4,1 tỷ USD, tăng 12,4% so với cùng kỳ 2017.
Tính riêng nhóm hàng sản phẩm gỗ, kim ngạch trong tháng 6/2018 đạt 513,5 triệu USD, tăng 2,5% so với tháng 5, nâng kim ngạch 6 tháng 2018 lên 2,8 tỷ USD, tăng 6,3% so với cùng kỳ.
Dẫn nguồn tin từ Tổng cục Hải quan, trong tháng 6/2018, kim ngạch xuất khẩu gỗ và sản phẩm gỗ của các doanh nghiệp FDI đạt gần 332,5 triệu USD, tăng 1,8% so với tháng 5/2018. Trong đó kim ngạch xuất khẩu sản phẩm gỗ đạt 299 triệu USD, tăng 2,7% so với tháng trước. Tính chung 6 tháng năm 2018, kim ngạch xuất khẩu gỗ và sản phẩm gỗ của các doanh nghiệp FDI đạt 1,783 tỷ USD, tăng 4,8% so với cùng kỳ năm ngoái, chiếm 43,2% tổng kim ngạch xuất khẩu gỗ và sản phẩm của cả nước. Trong đó kim ngạch xuất khẩu sản phẩm gỗ đạt 1,610 tỷ USD, tăng 4,6% so với cùng kỳ năm 2017, chiếm 56,2% tổng kim ngạch xuất khẩu sản phẩm gỗ của cả nước.
Gỗ và sản phẩm gỗ chủ yếu xuất khẩu sang thị trường Mỹ, chiếm 41,1% tỷ trọng, đạt 1,6 tỷ USD, tăng 12,48% so với cùng kỳ, tính riêng tháng 6/2018 kim ngạch xuất sang thị trường này đạt 333,4 triệu USD, tăng 7,21% so với tháng 5 và tăng 16,89% so với tháng 6/2017.
Thị trường xuất nhiều đứng thứ hai là Trung Quốc lục địa, chiếm 13,4% tỷ trọng đạt 555,6 triệu USD, tăng 0,02% so với cùng kỳ, nếu tính riêng tháng 6/2018 thì kim ngạch xuất khẩu gỗ sang Trung Quốc giảm nhẹ 0,64% so với tháng 5/2018 và giảm 5,53% so với tháng 6/2017 tương ứng với 95,1 triệu USD.
Kế đến là thị trường Nhật Bản, Hàn Quốc, Anh, Australia…. đạt kim ngạch lần lượt 528 triệu USD; 459,7 triệu USD; 142,6 triệu USD và 84,3 triệu USD….
Ngoài ra, xuất khẩu gỗ và sản phẩm sang các nước EU chiếm 9,4%; Đông Nam Á chiếm 2,1% tỷ trọng.
Nhìn chung, nửa đầu năm 2018 kim ngạch xuất khẩu gỗ và sản phẩm sang các thị trường đều có tốc độ tăng trưởng, số thị trường này chiếm 71% và ngược lại thị trường với kim ngạch suy giảm chỉ chiếm 28,9%.
Đặc biệt, thời gian này Thụy Sỹ, Séc và Malasyia tăng nhập khẩu gỗ và sản phẩm gỗ từ thị trường Việt Nam, tăng lần lượt gấp 2,5 lần (tức tăng 147,01%); 2,2 lần (tức tăng 120,53%) và gấp 2,09 (tức tăng 109,36%) so với cùng kỳ, tuy kim ngạch chỉ đạt tương ứng 1,3 triệu USD, 994,7 nghìn USD và 52,2 triệu USD.
Ngược lại, xuất khẩu gỗ và sản phẩm gỗ sang các thị trường như Hongkong (TQ) và Áo lại sụt giảm mạnh, giảm lần lượt 44,68% và 35,56% chỉ với 4,3 nghìn USD và 370,1 nghìn USD.
Với tốc độ tăng trưởng trên hai con số, dự báo trong nửa cuối năm 2018 kim ngạch xuất khẩu gỗ và sản phẩm gỗ ước tăng 13% - 15% bởi những yếu tố thuận lợi như: thị trường bất động trên toàn cầu cải thiện, theo chu kỳ hàng năm nửa cuối năm nhu cầu sửa chữa thay thế các sản phẩm nội thất tại nhiều thị trường lớn tăng.

Thị trường chủ lực xuất khẩu gỗ và sản phẩm 6 tháng 2018

Thị trường

T6/2018 (USD)

+/- so với tháng 5/2018 (%)

6T/2018 (USD)

+/- so với cùng kỳ 2017 (%)

Hoa Kỳ

333.453.954

7,21

1.695.964.018

12,48

Trung Quốc

95.131.031

-0,64

555.639.485

0,02

Nhật Bản

88.484.311

-0,34

528.066.477

4,99

Hàn Quốc

85.558.968

-0,11

459.762.951

52,71

Anh

22.645.019

6,34

142.617.751

-1,24

Australia

17.602.514

12,53

84.378.582

14,76

Canada

13.751.574

-11,37

77.401.762

3,48

Pháp

9.334.077

-10,83

63.605.582

24,63

Đức

5.911.697

17,14

53.045.429

-10,18

Malaysia

11.687.237

0,76

52.296.724

109,36

 (Vinanet tính toán số liệu từ TCHQ)