Theo thống kê sơ bộ của Tổng cục Hải quan, xuất khẩu rau quả trong tháng 5/2020 giảm 21,2% so với tháng 4/2020 và cũng giảm 24,8% so với tháng 5/2019, đạt 269,68 triệu USD.
Tính chung trong 5 tháng đầu năm 2020 kim ngạch xuất khẩu rau quả của cả nước đạt trên gần 1,5 tỷ USD, giảm 14,9% so với 5 tháng đầu năm 2019.
Rau quả của Việt Nam xuất khẩu tới 60,4% sang thị trường Trung Quốc, đạt trên 906,15 triệu USD, giảm 29% so với cùng kỳ năm 2019.
Đứng sau thị trường chủ đạo Trung Quốc là thị trường Đông Nam Á đạt 123,52 triệu USD, chiếm 8,2%, tăng mạnh 109,1%.
Tiếp sau đó là thị trường Hàn Quốc đạt 67,37 triệu USD, tăng 21,8% so với cùng kỳ; thị trường EU tăng 3,7%, đạt 62,39 triệu USD, chiếm 4,2%.
Trong 5 tháng đầu năm nay, mặc dù xuất khẩu sang thị trường chủ đạo Trung Quốc giảm mạnh, nhưng xuất khẩu sang phần lớn các thị trường tăng kim ngạch so với cùng kỳ năm 2019, trong đó các thị trường tăng mạnh trên 100% về kim ngạch như: Campuchia tăng 312%, đạt 3,96 triệu USD; Thái Lan tăng 233,4%, đạt 67,96 triệu USD; Indonesia tăng 164,9%, đạt 2,88 triệu USD; Nga tăng 119,8%, đạt 24,18 triệu USD.
Ngược lại, rau quả xuất khẩu sang một số thị trường sụt giảm mạnh như: Ai Cập giảm 60,2%, đạt 2,57 triệu USD; Italia giảm 35,4%, đạt 3,6 triệu USD.
Xuất khẩu rau quả có nhiều tín hiệu khả quan trong bối cảnh dịch COVID-19 vẫn diễn biến phức tạp. Một số sản phẩm của Việt Nam đã được chấp nhận tại nhiều thị trường khó tính. Nhật Bản vẫn đẩy mạnh nhập khẩu nhiều chủng loại trái cây, rau củ từ Việt Nam như: chuối, thanh long, vải, khoai lang… Đây là cơ hội lớn cho chuối Việt Nam được xuất khẩu sang thị trường này, sau thành công của vải thiều. Cùng với đó, Hiệp định EVFTA có hiệu lực từ ngày 1/8 tới sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho doanh nghiệp ngành hàng rau quả mở rộng thị trường xuất khẩu, cụ thể là xóa bỏ 94% trong số 547 dòng thuế rau quả và các chế phẩm từ rau quả, trong đó nhiều sản phẩm Việt Nam sẽ có lợi thế ngay khi Hiệp định có hiệu lực, tạo cơ hội cho rau quả Việt Nam vào thị trường EU.

Xuất khẩu rau quả 5 tháng đầu năm 2020

(Tính toán từ số liệu công bố ngày 13/6/2020 của TCHQ)

ĐVT: USD

 

Thị trường

 

Tháng 5/2020

+/- so với tháng 4/2020 (%)

 

5 tháng đầu năm 2020

+/- so với cùng kỳ năm 2019 (%)

 

Tỷ trọng (%)

Tổng kim ngạch XK

269.684.124

-21,15

1.499.873.468

-14,88

100

Trung Quốc đại lục

158.244.091

-29,78

906.146.928

-29,14

60,41

Thái Lan

10.102.430

38,55

67.958.593

233,38

4,53

Hàn Quốc

12.751.061

-2,06

67.365.059

21,83

4,49

Mỹ

12.760.093

-5

62.016.237

6,08

4,13

Nhật Bản

11.353.632

7,22

57.708.747

15,52

3,85

Hà Lan

6.002.917

-36,2

33.975.386

9,03

2,27

Đài Loan (TQ)

7.180.379

-19,39

31.387.325

86,41

2,09

Nga

4.277.369

-21,49

24.184.555

119,82

1,61

Australia

4.301.772

-10,74

22.664.132

41,7

1,51

Hồng Kông (TQ)

9.595.997

141,67

21.279.751

65,95

1,42

U.A.E

2.328.301

-55,83

19.627.045

25,31

1,31

Lào

2.497.888

-0,61

19.240.412

87,84

1,28

Malaysia

3.358.975

19,14

15.982.265

18,75

1,07

Singapore

2.854.324

-9,35

13.497.046

4,27

0,9

Saudi Arabia

1.477.185

-8,02

12.160.266

98,2

0,81

Pháp

1.837.936

-0,15

11.921.145

-2,85

0,79

Canada

2.491.280

17,76

11.507.612

27,15

0,77

Đức

1.252.917

-41,14

8.958.750

12,27

0,6

Campuchia

1.242.184

-8,83

3.960.842

312,11

0,26

Anh

702.026

-7,34

3.933.441

23,68

0,26

Italia

167.131

-86,06

3.599.029

-35,4

0,24

Indonesia

33.061

-80,4

2.876.639

164,85

0,19

Ai Cập

157.361

-58,01

2.574.709

-60,18

0,17

Thụy Sỹ

334.966

-3,24

1.810.800

-21,06

0,12

Kuwait

81.004

-79,62

1.285.834

-22,6

0,09

Na Uy

153.942

-6,96

1.035.972

-11,19

0,07

Ukraine

 

-100

381.189

-14,46

0,03

Senegal

65.058

26,9

309.474

-17,25

0,02

 

 

Nguồn: VITIC