Riêng tháng 5/2019 đạt 145.857 tấn tương đương 58,03 triệu USD, giảm 39,3% cả về lượng và kim ngạch so với tháng 4/2019; so với tháng 5/2018 cũng giảm 34,7% về lượng và giảm 42% về kim ngạch.
Riêng mặt hàng sắn lát chiếm 20,5% trong tổng lượng và chiếm 10,8% trong tổng kim ngạch xuất khẩu nhóm hàng này của cả nước, đạt 217.616 tấn, tương đương 44,28 triệu USD, giảm 58,2% về lượng và giảm 59,7% về kim ngạch so với cùng kỳ.
Sắn và các sản phẩm từ sắn xuất khẩu hầu hết sang thị trường Trung Quốc chiếm 88,5% trong tổng lượng và kim ngạch xuất khẩu nhóm hàng này của cả nước, đạt 939.888 tấn, tương đương 362,68 triệu USD, giảm 19,1% về lượng và giảm 11,2% về kim ngạch so với cùng kỳ; tuy nhiên giá xuất khẩu sang thị trường này tăng 9,8%, đạt trung bình 385,9 USD/tấn; riêng tháng 5/2019 xuất sang Trung Quốc giảm mạnh 43% cả về lượng và kim ngạch so với tháng 4/2019; so với tháng 5/2018 cũng giảm 32,3% về lượng và giảm 40,1% về kim ngạch.
Ngoài thị trường chủ đạo Trung Quốc, thì sắn và sản phẩm sắn của Việt Nam còn xuất sang Hàn Quốc 44.216 tấn, tương đương 12,84 triệu USD, tăng 1,8% về lượng và tăng 9,5% về kim ngạch so với cùng kỳ; xuất sang thị trường Đông Nam Á 28.107 tấn, tương đương 12,21 triệu USD, giảm 25,6% về lượng và giảm 30% về kim ngạch; Đài Loan 12.802 tấn, tương đương 5,81 triệu USD, giảm 26,3% về lượng và giảm 30,6% về kim ngạch; sang Nhật Bản 6.042 tấn, tương đương 1,42 triệu USD, giảm 41% cả về lượng và kim ngạch.
Xuất khẩu sắn và sản phẩm sắn sang Trung Quốc giảm do nhu cầu giảm. Trung Quốc vẫn tiếp tục chính sách dự trữ ngô, làm giảm nhu cầu tiêu thụ sắn. Dự báo thời gian tới, xuất khẩu tiếp tục ở mức thấp. Nhu cầu tiêu thụ của Trung Quốc có thể tăng trở lại sau khi Trung Quốc tăng thuế nhập khẩu lên 25% với gói hàng hóa trị giá 60 tỷ USD của Mỹ khiến nguồn cung cồn nhập khẩu giảm. Tuy nhiên, để giảm áp lực thuế quan khi xuất khẩu hàng hóa sang Mỹ, Trung Quốc đang áp dụng chính sách giảm giá đồng nhân dân tệ, điều này gây bất lợi cho các doanh nghiệp xuất khẩu sắn và sản phẩm từ sắn.
Cục Chế biến và Phát triển Thị trường Nông sản cho biết xuất khẩu tinh bột sắn giảm mạnh. Nguồn cung và chất lượng sắn củ tươi giảm mạnh nên hầu hết nhà máy chế biến tinh bột sắn đã tạm ngưng sản xuất, khiến nguồn cung xuất khẩu khan hiếm, đồng thời giá xuất khẩu đang giảm mạnh nên doanh nghiệp cũng có xu hướng gom hàng, tạm ngưng xuất khẩu. Thêm vào đó, Trung Quốc cũng tăng cường kiểm soát nghiêm ngặt các quy định về nhãn mác, bao bì, thông tin sản phẩm tinh bột sắn Việt Nam và siết chặt nhập khẩu qua kênh biên mậu.
Từ sau ngày 1/4/2019, Trung Quốc giảm thuế VAT với hàng hóa nhập khẩu chính ngạch xuống còn 13% khiến giá hàng hóa xuất qua khu vực biên mậu trở nên kém cạnh tranh hơn. Ngoài ra, các nhà máy cám cá trong nước đang tăng mạnh thu mua sắn lát nên các doanh nghiệp Việt Nam không vội ký hợp đồng xuất khẩu sang Trung Quốc do giá thấp.
Cục Chế biến và Phát triển Thị trường Nông sản dự đoán xuất khẩu tinh bột sắn vẫn thấp đến hết quý II/2019. Hiện đang mùa nắng nóng, nhu cầu sử dụng tinh bột sắn cho sản xuất thực phẩm tại Trung Quốc giảm mạnh. Tuy nhiên, lượng tồn kho của các nhà máy Việt Nam vụ 2018 - 2019 không còn nhiều, do đó sẽ không có hiện tượng dư cung cho tới vụ mới 2019 - 2020.
Trong khi đó, mức thuế VAT sản phẩm sắn tại Trung Quốc giảm sẽ thúc đẩy xuất nhập khẩu chính ngạch qua các cảng biển Trung Quốc và buộc các doanh nghiệp xuất nhập khẩu tinh bột sắn qua đường biên mậu phải điều chỉnh giá phù hợp, hiện các doanh nghiệp kinh doanh sắn lát Việt Nam đang chờ thủ tục đăng ký danh sách xuất khẩu sang Trung Quốc.

Xuất khẩu sắn và sản phẩm sắn 5 tháng đầu năm 2019

 

Thị trường

5T/2019

+/- so với cùng kỳ (%)*

Lượng

(tấn)

Trị giá (USD)

Lượng

Trị giá

Sắn và các sản phẩm từ sắn

1.062.280

409.015.044

-18,99

-12,63

Sắn

217.616

44.276.072

-58,16

-59,68

Trung Quốc đại lục

939.888

362.680.175

-19,06

-11,16

Hàn Quốc

44.216

12.844.990

1,83

9,53

Đông Nam Á

28.107

12.208.166

-25,62

-29,96

Philippines

15.151

6.491.190

-20,21

-23,55

Malaysia

12.956

5.716.976

-31,09

-36,05

Đài Loan (TQ)

12.802

5.813.174

-26,32

-30,55

Nhật Bản

6.042

1.420.771

-40,38

-41,62

Pakistan

209

122.083

 

 

(*Tính toán từ số liệu của TCHQ)