Trên thị trường năng lượng, giá dầu tăng sau khi báo cáo cho thấy sản lượng dầu mỏ toàn cầu tiếp tục giảm.
Kết thúc phiên, dầu ngọt nhẹ (WTI) giao tháng 3/2019 tăng 0,80 USD lên 53,90 USD/thùng; Trong khi tại thị trường London, giá dầu Brent giao tháng 4/2019 tăng 1,19 USD lên 63,61 USD/thùng.
Cơ quan Năng lượng Quốc tế (IEA) cho hay nguồn cung dầu mỏ trên toàn cầu trong tháng 1/2019 đã giảm 1,4 triệu thùng/ngày xuống 99,7 triệu thùng/ngày.
Tổ chức Các nước Xuất khẩu Dầu mỏ (OPEC) đã kiềm chế đáng kể sản lượng, với sản lượng dầu thô của OPEC trong tháng 1/2019 đã giảm 797.000 thùng/ngày xuống 30,81 triệu thùng/ngày.
Theo kế hoạch cắt giảm sản lượng khai thác đã đạt được trước đó, các nước thành viên OPEC cùng nhiều nhà sản xuất dầu lớn khác trên thế giới đã bắt đầu giảm sản lượng khoảng 1,2 triệu thùng/ngày tổng cộng kể từ tháng 1/2019 để vực dậy giá dầu. Kế hoạch này dự kiến sẽ kéo dài đến hết tháng 6/2019. Bộ trưởng Năng lượng Saudi Arabia cho biết nước ông sẽ giảm sản lượng dầu xuống dưới 10 triệu thùng/ngày vào tháng 3 tới, nhiều hơn nửa triệu thùng so với cam kết trong OPEC+.
Nguồn cung sẽ càng khan hiếm bởi theo đánh giá của Goldman Sachs, việc Mỹ trừng phạt Venezuela có thể khiến nguồn cung của nước này giảm khoảng 330.000 thùng/ngày.
Tuy nhiên, theo Cơ quan Năng lượng Quốc tế (IEA), thị trường dầu toàn cầu vẫn dư cung nhiều bởi “dư thừa lớn từ nửa cuối 2018”, sản lượng sẽ vượt nhu cầu trong năm nay, và đối với năm 2019, chỉ riêng sản lượng của Mỹ tăng cũng nhiều hơn mức sản lượng hiện tại của Venezuela.
Cơ quan Thông tin Năng lượng Mỹ (EIA) dự báo, sản lượng của Mỹ sẽ tăng 1,45 triệu thùng/ngày trong năm 2019, tăng tiếp 790 triệu thùng/ngày trong năm tiếp theo và đạt 13 triệu thùng/ngày vào năm 2020. Dự trữ dầu thô Mỹ tuần qua đã tăng lên mức cao nhất kể từ tháng 11/2017 do các nhà máy lọc dầu hoạt động ở công suất thấp nhất kể từ tháng 10/2017.
Trabg CNBC trích lời giám đốc điều hành công ty dầu khí BP, Dan Murphy, cho rằng, một loạt rủi ro dữ dội có thể gây ra khủng hoảng trên thị trường năng lượng trong vài tháng tới.
Phát biểu tại diễn đàn năng lượng Dan Murphy của CNBC tại Cairo, Ai Cập, ông Dudley chỉ ra tình trạng "thảm hại" tại Venezuela, bất ổn ở Libya, sản lượng gia tăng từ mỏ Permian và ảnh hưởng từ lệnh trừng phạt của Mỹ đối với Iran.
Khi được hỏi liệu việc giảm sản xuất từ liên minh OPEC + có thể giúp bình ổn giá dầu hay không, ông Bob Dudley cho biết: "Có rất nhiều yếu tố và vấn đề có thể dẫn tới một sự khủng hoảng thực sự". "Vì vậy, các quốc gia thuộc OPEC + đã thống nhất giảm sản lượng trong quí dầu tiên, nhưng chúng tôi không thực sự có dữ liệu từ họ. Chúng tôi sẽ phải xem dữ liệu như thế nào nhưng thị trường có vẻ như đang thắt chặt đối với tôi". Theo ông Dudley, giá dầu dao động trong khoảng 50 - 65 USD/thùng là mức phù hợp cho cả nhà sản xuất và người tiêu dùng".
Sản lượng dầu của Mỹ , Nga và Saudi Arabia đủ đáp ứng hơn 1/3 tổng nhu cầu dầu mỏ thế giới.
Trên thị trường kim loại quý, giá vàng phiên vừa qua có lúc chạm mức cao nhất trong vòng hơn 1 tuần trước những dấu hiệu Fed có thể sẽ vẫn kiên nhẫn trong lộ trình tăng lãi suất.
Cuối phiên, giá vàng giao ngay trên sàn London tăng 0,1% lên 1.311,29 USD/ounce, sau khi có lúc vọt lên 1.318,12 USD/ounce - mức cao nhất kể từ ngày 4/2; vàng giao sau trên sàn New York tăng 0,1% và khép phiên ở mức 1.315,10 USD/ounce.
Các nhà giao dịch cho rằng giá vàng đi lên giữa bối cảnh các quan chức Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed) bày tỏ sẽ ủng hộ quan điểm tạm dừng tăng lãi suất để xem xét và đánh giá về những tác động của chính sách tiền tệ của Fed đối với nền kinh tế.
Bên cạnh đó, việc giá tiêu dùng tại Mỹ trong tháng Một không thay đổi tháng thứ ba liên tiếp cũng sẽ cho phép Fed giữ lãi suất ổn định trong một thời gian.
Môi trường lãi suất thấp hơn được cho là làm giảm chi phí cơ hội nắm giữ vàng, trong khi lại gây sức ép lên đồng USD.
Hiện nay, các nhà đầu tư đang chờ đợi những diễn biến mới xung quanh cuộc đàm phán giải quyết tranh chấp thương mại giữa Mỹ và Trung Quốc.
Bộ trưởng Tài chính Mỹ Steven Mnuchin ngày 13/2/2019 cho biết các cuộc đàm phán thương mại với Trung Quốc đang tiến triển tốt, giữa lúc hai nước đang tìm cách đạt một thỏa thuận nhằm chấm dứt tranh cãi khiến hai bên phải đáp trả nhau bằng các mức thuế cao.
Tuy nhiên, hy vọng về một giải pháp dàn xếp tranh chấp thương mại kéo dài giữa hai nền kinh tế lớn nhất thế giới đã góp phần giúp thị trường chứng khoán đi lên và tác động tới sự đi lên của giá vàng.
Về những kim loại quý khác, giá bạch kim giảm 0,1% xuống 785,50 USD/ounce, giá bạc giảm 0,3% xuống 15,66 USD/ounce.
Trên thị trường kim loại công nghiệp, giá đồng tăng từ mức thấp nhất 2 tuần do những dấu hiệu cho thấy căng thẳng giữa Mỹ và Trung Quốc đã dịu lại, nhưng vẫn chưa có giải pháp giải quyết vấn đề này nên giá kim loại khó tăng mạnh.
Đồng giao sau 3 tháng trên sàn London tăng 0,3% lên 6.125 USD/tấn, phiên tăng đầu tiên trong vòng 5 phiên. Một số chuyên gia cho rằng nhu cầu đồng đủ mạnh để giữ giá trên mức 6.100 USD/tấn, nhưng không đủ để đẩy giá tăng nhiều hơn nữa nếu không có thêm yếu tố kích thích từ Trung Quốc.
Lượng đồng lưu kho tại sàn London hiện chỉ 74.750 tấn, gần sát mức thấp nhất kể từ 2005 đã chạm tới hồi tháng 10/2018.
Giá quặng sắt tại Trung Quốc tiếp tục giảm phiên thứ 2 liên tiếp bởi các nhà đầu tư chờ để biết rõ ràng hơn tình hình nguồn cung sau khi hãng Vale của Brazil phải đóng cửa một số mỏ khai thác.
Quặng sắt trên sàn Đại Liên giảm 3,3% xuống 624 CNY (92,34 USD)/tấn vào cuối phiên, sau khi có lúc xuống chỉ 615 CNY lúc đầu phiên.
Thép cũng giảm giá theo xu hướng quặng sắt. Thép cây giao dịch trên sanfThwowngj Hải giảm 2,5% xuống 3.702 CNY/tấn, trong khi đó thép cuộn cán nóng giảm 2,1% xuống 3.608 CNY/tấn.
Lo ngại kinh tế Trung Quốc tăng trưởng thấp do những xung đột thương mại với Mỹ tiếp tục cản trở các mặt hàng sắt thép tăng giá.
Trên thị trường nông sản, giá cà phê arabica kỳ hạn tháng 3/2019 giảm 1,55 US cent tương đương 1,5% xuống 98,80 US cent/lb vào cuối phiên, sau khi có lúc chỉ 98,65 US cent, thấp nhất kể từ 19/12/2018. Nguyên nhân bởi tỷ giá đồng real Brazil so với USD giảm xuống mức thấp nhất trong vòng 2 tháng, kích thích các nhà sản xuất Brazil bán cà phê ra. Robusta cũng giảm 1 USD tương đương 0,1% trong phiên vừa qua, xuống 1.534 USD/tấn.
Giá đường thô cũng giảm trong phiên vừa qua do đồng real yếu đi, mặc dù Brazil vẫn dành tỷ lệ lớn mía cho sản xuất ethanol. Đường thô kỳ hạn tháng 3/2019 giảm 0,1 US cent tương đương 0,8% xuống 12,75 US cent/lb. Công ty mía đường Mexico Sucroliq dự báo Mexico sẽ sản xuất 6,2 triệu tấn đường trong vụ mùa 2019, tức là dư thừa 2,1 triệu tấn.
Đường trắng hợp đồng kỳ hạn tháng 3 trái lại tăng 6,2 USD tương đương 1,9% lên 332 USD/tấn vào cuối phiên, mặc dù trước đó có lúc xuống mức thấp nhất 4 tháng là 320,4 USD/tấn.
Giá cao su trên sàn Tokyo tăng theo xu hướng của sàn Thượng Hải nhờ những chính sách thúc đẩy tiêu thụ ô tô của Trung Quốc. Hợp đồng cao su kỳ hạn tháng 7/2019 tại Tokyo tăng 2,2 JPY (0,0199 USD) lên 183,1 JPY/kg; hợp đồng kỳ hạn tháng 5/2019 tại Thượng Hải tăng 90 CNY (13,31 USD) lên 11.675 USD/tấn.
Bắc Kinh hồi cuối tháng 1/2019 thông báo sẽ trợ cấp cho người mua ô tô trên toàn quốc – nỗ lực nhằm kích thích tiêu thụ mặt hàng này. Một số công ty bắt đầu thực hiện chính sách này kể từ ngày 13/2/2019.
Giá hàng hóa thế giới

Mặt hàng

ĐVT

Giá

+/-

+/- (%)

Dầu thô WTI

USD/thùng

53,90

+0,80

+1,51%

Dầu Brent

USD/thùng

63,63

+1,21

+1,94%

Dầu thô TOCOM

JPY/kl

43.060,00

+680,00

+1,60%

Khí thiên nhiên

USD/mBtu

2,58

-0,11

-4,20%

Xăng RBOB FUT

US cent/gallon

146,51

+3,79

+2,66%

Dầu đốt

US cent/gallon

193,88

+3,16

+1,66%

Dầu khí

USD/tấn

593,50

+10,50

+1,80%

Dầu lửa TOCOM

JPY/kl

57,850.00

+250.00

+0.43%

Vàng New York

USD/ounce

1.315,10

+1,10

+0,08%

Vàng TOCOM

JPY/g

4.649,00

-12,00

-0,26%

Bạc New York

USD/ounce

15,65

-0,04

-0,24%

Bạc TOCOM

JPY/g

55,50

-0,50

-0,89%

Bạch kim

USD/ounce

787,43

+0,77

+0,10%

Palađi

USD/ounce

1.397,85

+0,17

+0,01%

Đồng New York

US cent/lb

277,30

+0,10

+0,04%

Đồng LME

USD/tấn

6.106,00

-44,00

-0,72%

Nhôm LME

USD/tấn

1.861,00

-19,00

-1,01%

Kẽm LME

USD/tấn

2.608,00

-36,00

-1,36%

Thiếc LME

USD/tấn

20.925,00

-100,00

-0,48%

Ngô

US cent/bushel

378,75

+0,50

+0,13%

Lúa mì CBOT

US cent/bushel

526,00

+4,25

+0,81%

Lúa mạch

US cent/bushel

281,75

-5,25

-1,83%

Gạo thô

USD/cwt

10,26

+0,01

+0,10%

Đậu tương

US cent/bushel

916,50

-1,00

-0,11%

Khô đậu tương

USD/tấn

314,20

+1,00

+0,32%

Dầu đậu tương

US cent/lb

30,34

-0,33

-1,08%

Hạt cải WCE

CAD/tấn

480,80

-0,40

-0,08%

Cacao Mỹ

USD/tấn

2.287,00

+17,00

+0,75%

Cà phê Mỹ

US cent/lb

102,30

-1,25

-1,21%

Đường thô

US cent/lb

12,58

-0,08

-0,63%

Nước cam cô đặc đông lạnh

US cent/lb

119,10

+0,20

+0,17%

Bông

US cent/lb

71,40

+0,29

+0,41%

Lông cừu (SFE)

US cent/kg

--

--

--

Gỗ xẻ

USD/1000 board feet

416,40

+15,00

+3,74%

Cao su TOCOM

JPY/kg

183,00

-0,10

-0,05%

Ethanol CME

USD/gallon

1,34

+0,01

+0,90%

Nguồn: VITIC/Bloomberg. Reuters. CafeF