Trên thị trường năng lượng, giá dầu tiếp tục tăng trong bối cảnh căng thẳng tại khu vực Trung Đông.
Kết thúc phiên giao dịch, dầu Brent Biển Bắc giao dịch ở mức 72,62 USD/thùng, tăng 85 UScent (1,18%) so với đóng cửa phiên trước, sau khi có lúc chạm mức cao nhất trong ba tuần; dầu thô ngọt nhẹ Mỹ (WTI) tăng 81 US cent (1,37%) lên 62,87 USD/thùng, sau khi có lúc đạt mức cao nhất trong hai tuần.
Ngày 16/5/2019, liên minh quân sự do Saudi Arabia dẫn đầu đã tiến hành một số cuộc không kích nhằm vào các mục tiêu của lực lượng phiến quân nổi dậy Houthi tại thủ đô Sanaa của Yemen nhằm đáp trả các vụ tấn công gần đây liên quan đến cơ sở hạ tầng dầu mỏ nước này.
Động thái này diễn ra sau khi Houthi thừa nhận đã tiến hành vụ tấn công hai trạm bơm dầu của Saudi Arabia bằng máy bay không người lái hồi đầu tuần này. Thứ trưởng Bộ Quốc phòng Saudi Arabia, Hoàng tử Khalid Bin Salman đã lên tiếng cáo buộc Iran ra lệnh cho phiến quân Houthi tại Yemen tấn công các trạm bơm dầu của nước này.
Trước tình hình đó, các nhà máy lọc dầu và vận chuyển châu Á đã đặt tình trạng cảnh báo cho những tàu chở dầu đang hướng đến khu vực Trung Đông, đồng thời cho biết có khả năng họ sẽ tăng mức phí bảo hiểm hàng hải sau các vụ tấn công.
Trong khi đó, thị trường năng lượng vẫn chưa chắc chắn được về việc liệu Tổ chức Các nước Xuất khẩu Dầu mỏ (OPEC) và các nước sản xuất dầu khác sẽ tiếp tục thỏa thuận cắt giảm nguồn cung hay không. Thỏa thuận này đã giúp giá dầu tăng hơn 30% từ đầu năm 2019 đến nay.
Bộ trưởng Dầu mỏ Iraq Thamer Ghadhban cho biết cuộc họp ủy ban điều phối chung sắp tới của OPEC sẽ đánh giá sự tuân thủ thỏa thuận của các nước trong và ngoài tổ chức này.
Giá khí tự nhiên tại Mỹ tăng do sản lượng giảm bất chấp dự trữ cao hơn bình thường vào tuần trước. Giá khí tự nhiên kỳ hạn tháng 6/2019 trên sàn New York tăng 3,8 US cent tương đương 1,5% lên 2,639 USD/mBTU.
Trên thị trường kim loại quý, giá vàng giảm do đồng USD mạnh lên và các chỉ số chứng khoán Mỹ lên điểm làm giảm sức hấp dẫn của tài sản an toàn như vàng. Giá vàng giao ngay giảm 0,8% xuống 1.285,63 USD/ounce, phiên giảm mạnh nhất kể từ ngày 16/4/2019; vàng giao tháng 6/2019 - kỳ hạn được giao dịch nhiều nhất hiện nay - giảm 11,6 USD, hay 0,89%, xuống chốt phiên ở mức 1.286,2 USD/ounce.
Chỉ số đồng USD, đo giá trị của đồng tiền này so với sáu đồng tiền mạnh khác, tăng 0,23%, lên 97,79. Vàng thường có xu hướng biến động ngược chiều với đồng USD, có nghĩa rằng nếu đồng USD lên giá thì vàng sẽ xuống giá bởi vàng được định giá theo đồng tiền này sẽ trở nên đắt hơn đối với các nhà đầu tư mua bằng các đồng tiền khác.
Về những kim loại quý khác, giá bạc giảm 1,8% xuống 14,53 USD/ounce, sau khi có lúc chạm mức thấp nhất kể từ 14/12/22018 là 14,48 USD/ounce; bạch kim giảm 1,6% xuống 831,75 USD/ounce, palađi chạmmức thấp nhất 2 tháng vào đầu phiên là 826,95 USD/ounce sau đó hồi phục nhẹ lên 1.331,73 USD/ounce, chỉ còn giảm 1% so với phiên trước.
Trên thị trường kim loại công nghiệp, giá nhôm tăng cao nhất 2 tuần sau thông tin đóng cửa sản xuất tại một trong số cơ sở luyện kim lớn nhất của Trung Quốc, dấy lên mối lo ngại về nguồn cung từ nước sản xuất hàng đầu này.
Giá nhôm kỳ hạn trên sàn London tăng 0,3% lên 1.860 USD/tấn, trong phiên có lúc đạt 1.871 USD/tấn, cao nhất kể từ ngày 3/5/2019.
Giá nhôm kỳ hạn trên sàn Thượng Hải đạt 14.395 CNY/tấn, cao nhất 7 tháng.
Trung Quốc là nước tiêu thụ và sản xuất nhôm lớn nhất thế giới chiếm 57% sản lượng toàn cầu, ước đạt hơn 64 triệu tấn trong năm 2018.
Giá thép xây dựng của Trung Quốc phục hồi nhờ lo ngại liên quan tới chiến tranh thương mại Mỹ - Trung được xoa dịu. Đà tăng được dự báo sẽ duy trì trong tháng 6. Giá thép thanh giao dịch trên Sàn giao dịch Thượng Hải tăng 0,9% và chốt phiên 15/5 ở 3.704 nhân dân tệ/tấn (539,6 USD/tấn). Trước đó, giá thép giảm liên tiếp trong hai phiên và xuống thấp nhất kể từ ngày 8/4. Tương tự, giá thép cuộn cán nóng tăng 1% lên 3.637 nhân dân tệ/tấn.
Giá quặng sắt tại Trung Quốc tăng lên mức cao kỷ lục, do nhu cầu tiêu thụ tăng mạnh trong khi dự trữ thấp. Giá quặng sắt kỳ hạn tháng 9/2019 trên sàn Đại Liên tăng 4,8% lên 680,5 CNY/tấn, trong phiên có lúc tăng 5,5% lên 685 CNY (99,63 USD)/tấn, cao nhất kể từ năm 2013.
Ông Darren Toh, chuyên gia khoa học dữ liệu tại công ty Tivlon Technologies, dự đoán giá quặng sắt tiếp tục tăng trong bối cảnh tồn kho thép tiếp tục giảm. “Chúng tôi giữ quan điểm rằng giá thép và quặng sắt sẽ lên cao hơn nữa trong tháng 6 vì nhu cầu trong lĩnh vực xây dựng vẫn lớn”.
“Lo ngại về thuế quan chỉ là tạm thời, trong khi nhu cầu tiêu thụ thép tại thị trường Trung Quốc vẫn lớn”, ông Toh cho biết. Trước đó, Tổng thống Mỹ Donald Trump ngày 14/5 cũng mô tả đợt leo thang căng thẳng thương mại gần đây với Trung Quốc chỉ là một cuộc cãi vã nhỏ và khẳng định đàm phán giữa hai bên vẫn chưa sụp đổ.
Ông Toh cho biết các nhà máy sản xuất thép tại Trung Quốc vẫn có lời dù sản lượng thép đang ở mức cao. Sản lượng thép thô tháng 4 của nước này tăng 12,7% so với tháng trước lên cao kỷ lục do nhu cầu lớn và mức lợi nhuận hấp dẫn.
Trên thị trường nông sản, giá cà phê giảm phiên thứ 2 liên tiếp, trong khi giá đường cũng giảm. Giá cà phê robusta kỳ hạn tháng 7/2019 trên sàn ICE giảm 40 USD tương đương 2,9% xuống 1.335 USD/tấn. Giá cà phê Arabica giao cùng kỳ hạn trên sàn ICE tăng 0,35 US cent tương đương 0,4% lên 91,65 US cent/lb.
Đồng thời, giá đường thô kỳ hạn tháng 7/2019 trên sàn ICE giảm 0,07 US cent tương đương 0,6% xuống 11,78 US cent/lb. Giá đường trắng kỳ hạn tháng 8/2019 trên sàn ICE giảm 1 USD tương đương 0,3% xuống 325,6 USD/tấn.
Giá ngô tăng phiên thứ 4 liên tiếp do dự báo thời tiết xấu ảnh hưởng đến tiến độ trồng trọt tại khu vực Trung Tây Mỹ, khiến các quỹ hàng hóa đẩy mạnh mua vào.
Giá ngô kỳ hạn tháng 7/2019 trên sàn Chicago tăng 9-1/2 US cent lên 3,79 USD/bushel, trong phiên có lúc đạt 3,8-3/4 USD/bushel, cao nhất kể từ ngày 29/3/2019.
Giá lúa mì kỳ hạn tháng 7/2019 trên sàn Chicago tăng 18-1/4 US cent lên 4,67 USD/bushel, trong phiên có lúc đạt 4,68-1/2 USD/bushel, cao nhất kể từ ngày 12/4/2019 và giá đậu tương kỳ hạn tháng 7/2019 trên sàn Chicago tăng 4-1/4 US cent lên 8,39-3/4 USD/bushel.
Giá dầu cọ tại Malaysia tăng phiên thứ 4 liên tiếp lên cao nhất 2 tuần do nhu cầu tăng mạnh và theo xu hướng giá dầu đậu tương tại Chicago tăng.
Giá dầu cọ kỳ hạn tháng 8/2019 trên sàn Bursa Malaysia tăng 1,4% lên 2.073 ringgit (498,68 USD)/tấn, trong phiên có lúc đạt 2.075 ringgit/tấn, cao nhất kể từ ngày 2/5/2019. Tính từ đầu tuần đến nay, giá dầu cọ tăng 4,5%, tuần tăng đầu tiên trong 4 tuần.
Giá cao su tại Tokyo tăng lên mức cao nhất hơn 1 tuần, khi các nhà đầu tư thúc đẩy hoạt động mua vào do kỳ vọng việc hạn chế xuất khẩu bởi nước sản xuất cao su hàng đầu – Thái Lan – trong tuần tới sẽ khiến nguồn cung thắt chặt.
Giá cao su kỳ hạn tháng 10/2019 trên sàn TOCOM tăng 7,1 JPY tương đương 3,8% lên 193,1 JPY/kg, ngày tăng mạnh nhất kể từ ngày 25/2/2019. Giá cao su TSR20 kỳ hạn tháng 11/2019 trên sàn TOCOM tăng 4,1% lên 165,6 JPY/kg.
Đồng thời, giá cao su kỳ hạn tháng 9/2019 trên sàn Thượng Hải tăng 605 CNY lên 12.250 CNY (1.781 USD)/tấn, trong phiên có lúc đạt 12.255 CNY/tấn, cao nhất kể từ ngày 12/3/2019.
Thái Lan sẽ cắt giảm xuất khẩu cao su thêm 126.240 tấn trong 4 tháng sau khi hoãn thực hiện thỏa thuận cắt giảm nguồn cung với các nước sản xuất khác trong khu vực, Cơ quan cao su nhà nước Thái Lan cho biết.
Giá hàng hóa thế giới

Mặt hàng

ĐVT

Giá

+/-

Dầu thô WTI

USD/thùng

62,87

+0,81

Dầu Brent

USD/thùng

72,62

+0,85

Dầu thô TOCOM

JPY/kl

46.390,00

+610,00

Khí thiên nhiên

USD/mBtu

2,64

+0,00

Xăng RBOB FUT

US cent/gallon

206,72

+0,54

Dầu đốt

US cent/gallon

213,12

+0,80

Dầu khí

USD/tấn

664,00

-1,25

Dầu lửa TOCOM

JPY/kl

63.190,00

+780,00

Vàng New York

USD/ounce

1.286,10

-0,10

Vàng TOCOM

JPY/g

4.535,00

-18,00

Bạc New York

USD/ounce

14,52

-0,02

Bạc TOCOM

JPY/g

51,40

-0,90

Bạch kim

USD/ounce

831,35

-2,97

Palađi

USD/ounce

1.329,65

-6,10

Đồng New York

US cent/lb

275,10

+0,30

Đồng LME

USD/tấn

6.100,00

+15,00

Nhôm LME

USD/tấn

1.860,00

+5,00

Kẽm LME

USD/tấn

2.637,00

+11,00

Thiếc LME

USD/tấn

19.475,00

-370,00

Ngô

US cent/bushel

381,75

+2,75

Lúa mì CBOT

US cent/bushel

471,00

+4,00

Lúa mạch

US cent/bushel

297,50

+3,25

Gạo thô

USD/cwt

10,92

+0,01

Đậu tương

US cent/bushel

839,50

-0,25

Khô đậu tương

USD/tấn

301,90

0,00

Dầu đậu tương

US cent/lb

27,69

-0,03

Hạt cải WCE

CAD/tấn

445,70

-1,30

Cacao Mỹ

USD/tấn

2.372,00

+51,00

Cà phê Mỹ

US cent/lb

91,65

+0,35

Đường thô

US cent/lb

11,78

-0,07

Nước cam cô đặc đông lạnh

US cent/lb

102,50

-4,40

Bông

US cent/lb

66,62

-0,18

Lông cừu (SFE)

US cent/kg

--

--

Gỗ xẻ

USD/1000 board feet

328,10

+1,90

Cao su TOCOM

JPY/kg

193,40

+0,30

Ethanol CME

USD/gallon

1,36

+0,02