Năng lượng: Giá dầu Brent tăng, WTI giảm 
Phiên cuối cùng của tháng 5, giá dầu biến động trái chiều. Trong khi dầu ngọt nhẹ (WTI) giao tháng 7/2018 tại New York giảm 1,17 USD xuống 67,04 USD/thùngn thì dầu Brent giao cùng kỳ hạn tại London tăng nhẹ 0,09 USD lên 77,59 USD/thùng. Trong phiên có thời điểm dầu thô Brent cao hơn WTI 11 USD/thùng, chênh lệch lớn nhất kể từ tháng 3/2015. Mức chênh này đã tăng gấp đôi trong vòng chưa đến một tháng, do đường ống dẫn dầu quá công suất vận chuyển tại Mỹ. Mức chênh lớn khiến xuất khẩu dầu thô của Mỹ cạnh tranh hơn so với các loại dầu như Biển Bắc hay các loại dầu Tây Phi.
Tính chung trong tháng 5, giá dầu WTI giảm nhẹ trong khi dầu Brent tăng.
Sản lượng dầu thô Mỹ đang tăng lên mức kỷ lục kể từ cuối năm ngoái. Trong tháng 3, sản lượng tăng 215.000 thùng lên 10,47 triệu thùng/ngày, mức kỷ lục mới hàng tháng.
Trong báo cáo về năng lượng dự trữ hàng tuần đưa ra ngày 30/5, Cơ quan Thông tin năng lượng của Mỹ cho biết dự trữ dầu thô của nước này giảm 3,6 triệu thùng trong tuần vừa qua, nhiều hơn đáng kể so với mức kỳ vọng giảm 525.000 thùng của thị trường trước đó.
Tuy nhiên, sự sụt giảm về lượng dầu thô dự trữ ở Mỹ đã được bù đắp bởi lượng dự trữ các nhiên liệu khác gia tăng ở nước này, với dự trữ xăng tăng 534.000 thùng. Ngoài ra, thị trường cũng đang nghe ngóng "động tĩnh" về khả năng các nước trong và ngoài OPEC, trong đó có cả Nga, có thể gia tăng khai thác dầu thô trong thời gian tới.
Các nước trong và ngoài OPEC đang tuân thủ và thực hiện thỏa thuận cắt giảm sản lượng khai thác 1,8 triệu thùng/ngày tổng cộng cho đến hết năm 2018. Các quốc gia này sẽ nhóm họp tại Vienna (Áo) vào ngày 22/6 tới để thảo luận về vấn đề liên quan.
Theo một nguồn tin thân cận, OPEC và các nước đồng minh nhiều khả năng sẽ tiếp tục kéo dài thỏa thuận cắt giảm sản lượng cho tới hết năm. Song các quốc gia này sẵn sàng điều chỉnh để bù đắp cho bất cứ sự thiếu hụt nguồn cung nào trên thị trường.
Kim loại quý: Giá vàng giảm phiên thứ 2 liên tiếp
Phiên cuối tháng, giá vàng biến động nhẹ trong bối cảnh tình hình căng thẳng chính trị tại Italy có phần lắng dịu và đồng USD hạ giá. Vàng giao ngay phiên này chốt ở mức 1.300,66 USD/ounce, tính chung trong tháng 5 giảm gần 1%, là tháng giảm thứ 2 liên tiếp. Cũng phiên cuối tuần, giá vàng giao tháng 6/2018 giảm nhẹ 0,1% (1,4 USD) xuống 1.300,10 USD/ounce.
Về các kim loại quý khác, giá bạc phiên cuối tháng giảm 0,3% xuống 16,46 USD/ounce, trong khi đó, giá bạch kim tăng 0,1% lên 907,40 USD/ounce.
Đồng euro tăng do hai cuộc thăm dò tại Italy cho thấy 60 – 72% người trả lời muốn nước này vẫn là một phần của Eurozone.
Chris Gaffney, người phụ trách mảng thị trường thế giới tại EverBank, nhận định các nhà giao dịch tỏ ra không “mặn mà” với hoạt động mua vào vàng trước việc tình hình trên chính trường Italy đang có dấu hiệu "hạ nhiệt".
Hai đảng của Italy đã nỗ lực để thành lập một chính phủ liên minh mới, xóa bỏ mối lo về một buộc bầu cử sớm mà các mà đầu tư lo sợ sẽ là một cuộc trưng cầu dân ý về tư cách thành viên của Italy trong khu vực Eurozone.
Kim loại công nghiệp: Tháng 5 giá đồng và nhôm tăng, kẽm và thiếc giảm
Phiên cuối tháng, giá kẽm giảm, trong khi đồng, nhôm và thiếc tăng.
Giá kẽm trên sàn LME giảm 1% xuống 3.100 USD/tấn, từ mức cao nhất một tháng 3.164,50 USD/tấn sau khi số liệu dự trữ của LME được phát hành. Tính chung cả tháng 5, giá kẽm và thiếc giảm.
Giá kẽm giảm sau khi dự trữ tăng, cho thấy các nguồn cung mạnh. Dự trữ kẽm tại kho được đảm bảo trên sàn giao dịch kim loại London tăng 7% trong một ngày lên 245.750 tấn, cao nhất kể từ tháng 11, tăng vọt 84% kể từ cuối tháng 2.
Các kim loại khác tăng trong phiên cuối tháng, sau khi số liệu cho thấy lĩnh vực sản xuất của Trung Quốc tăng trưởng với tốc độ nhanh nhất 8 tháng trong tháng 5, làm tiêu tan những dự đoán trước đây và giảm những lo ngại về suy giảm kinh tế. Tính chung cả tháng, giá đồng và nhôm tăng. Giá đồng LME tăng 0,2% lên 6.852 USD/tấn. Dự trữ đồng được đảm bảo của LME tăng 19% trong một ngày lên 226.675 tấn.
Cũng phiên cuối tháng, giá thép kỳ hạn của Trung Quốc tăng lên mức cao hai tuần sau một khảo sát cho thấy lĩnh vực sản xuất tại nền kinh tế lớn thứ hai thế giới này tăng với tốc độ nhanh nhất 8 tháng trong tháng 5. Thép thanh kỳ hạn tháng 10 trên sàn Thượng Hải tăng 1,5% lên 3.696 NDT (577 USD/tấn), trong phiên có lúc chạm 3.697 NDT/tấn, cao nhất kể từ ngày 18/5. Giá quặng sắt trên sàn giao dịch hàng hóa Đại Liên đóng cửa tăng 0,4% lên 462,5 NDT/tấn, than luyện cốc tăng 2,4% lên 1.238,5 NDT/tấn.
Nền kinh tế mạnh mẽ của Trung Quốc báo trước nhu cầu thép tốt tại nước tiêu dùng lớn nhất thế giới này và tiêu thụ mạnh trong những tháng qua với bằng chứng là dự trữ thép của các thương nhân sụt giảm.
Tuy nhiên, giám đốc giao dịch châu Á Thái Bình Dương thuộc công ty môi giới kỳ hạn OANDA, Stephen Innes, cho biết tác động tích cực từ số liệu sản xuất lạc quan đối với các tài sản rủi ro có thể không kéo dài trong bối cảnh căng thẳng thương mại giữa Washington và Bắc Kinh.
Washington sẽ thông báo kế hoạch áp thuế cho thép và nhôm nhập khẩu từ EU. EU cho biết họ không muốn một cuộc chiến thương mại nhưng sẽ đáp trả nếu Washington áp thuế.
Nông sản: Giá cà phê tăng, cao su giảm
Phiên giao dịch cuối tháng, giá cà phê arabica giao tháng 7 tăng 3,4 US cent tương đương 2,8% lên 1,237 USD/lb, trong phiên có lúc đạt 1,2405 USD, cao nhất kể từ 9/2. Tính chung cả tháng giá tăng 2,5%. Robusta giao cùng kỳ hạn trong phiên này tăng 20 USD tương đương 1,2% lên 1,752 USD/tấn.
Xuất khẩu cà phê của Việt Nam trong tháng 5 ước đạt 140.000 tấn, đưa tổng lượng xuất khẩu trong 5 tháng lên tới 825.000 tấn hay 13,75 triệu bao (60 kg/bao), tăng 1,8% so với cùng kỳ năm ngoái.
Cũng phiên cuối tháng, giá đường thô kỳ hạn tháng 7 tăng 0,19 US cent hay 1,5% lên 12,79 US cent/lb sau khi đạt 12,85 US cent, mức cao nhất kể từ ngày 23/3. Hợp đồng giao ngay đóng cửa tháng 5 tăng 11%, tháng tăng mạnh nhất kể từ tháng 9/2016. Giá đường tăng do việc gián đoạn sản xuất và xuất khẩu tại Brazil, nước trồng mía đường hàng đầu thế giới ngay cả khi nguồn cung toàn cầu dư thừa lớn. Giá đường trắng kỳ hạn tháng 8 tăng 5,7 USD hay 1,6%, lên 354,6 USD/tấn.
Sản lượng đường của Ấn Độ có thể đạt cao kỷ lục trong năm thị trường tới, với việc nông dân tiếp tục trồng mía mặc dù giá giảm và các nhà máy đường chậm trễ thanh toán cho niên vụ hiện tại.
Giá cao su tại Tokyo kỳ hạn tháng 11 đóng cửa giảm 1,1 JPY xuống 190.9 JPY/kg, giá cao su kỳ hạn tháng 9 trên sàn giao dịch kỳ hạn Thượng Hải giảm 130 NDT (20,31 USD) xuống 11.670 NDT/tấn.
Giá hàng hóa thế giới

Hàng hóa

ĐVT

Giá 30/4

Giá 31/5

Giá 31/5 so với 30/5

Giá 31/5 so với 30/5 (%)

Dầu thô WTI

USD/thùng

68,57

67,04

-1,17

-1,28%

Dầu Brent

USD/thùng

74,69

77,59

+0,09

+0,12%

Dầu thô TOCOM

JPY/kl

47.500,00

49.440,00

+140,00

+0,28%

Khí thiên nhiên

USD/mBtu

2,77

2,95

0,00

-0,17%

Xăng RBOB FUT

US cent/gallon

213,05

216,44

+0,39

+0,18%

Dầu đốt

US cent/gallon

215,21

220,75

+0,29

+0,13%

Dầu khí

USD/tấn

655,00

679,00

-2,75

-0,40%

Dầu lửa Tokyo

JPY/kl

64.340,00

67.290,00

+180,00

+0,27%

Vàng New York

USD/ounce

1.313,40

1.303,00

-1,70

-0,13%

Vàng Tokyo

JPY/g

4.602,00

4.534,00

-17,00

-0,37%

Bạc New York

USD/ounce

16,32

16,44

-0,02

-0,11%

Bạc Tokyo

JPY/g

57,30

57,40

-0,30

-0,52%

Bạch kim

USD/ounce

902,85

908,57

+1,60

+0,18%

Palladium

USD/ounce

965,35

990,03

+1,28

+0,13%

Đồng New York

US cent/lb

302,75

306,45

-0,05

-0,02%

Đồng LME

USD/tấn

6.807,00

6.852,00

+12,00

+0,18%

Nhôm LME

USD/tấn

2.255,00

2.292,00

+22,00

+0,97%

Kẽm LME

USD/tấn

3.127,00

3.100,00

-30,00

-0,96%

Thiếc LME

USD/tấn

21.175,00

20.600,00

+25,00

+0,12%

Ngô

US cent/bushel

400,25

394,75

+0,75

+0,19%

Lúa mì

US cent/bushel

508,25

524,75

-1,50

-0,29%

Lúa mạch

US cent/bushel

236,00

244,75

+6,00

+2,51%

Gạo thô

USD/cwt

13,05

11,56

-0,10

-0,86%

Đậu tương

US cent/bushel

1.043,50

1.022,00

+3,50

+0,34%

Khô dầu

USD/tấn

392,00

376,70

+1,40

+0,37%

Dầu đậu tương

US cent/lb

30,62

31,20

+0,08

+0,26%

Hạt cải

CAD/tấn

529,60

534,00

-0,10

-0,02%

Cacao Mỹ

USD/tấn

2.825,00

2.454,00

-75,00

-2,97%

Cà phê Mỹ

US cent/lb

122,80

123,70

+3,40

+2,83%

Đường thô

US cent/lb

11,75

12,79

+0,19

+1,51%

Nước cam

US cent/lb

155,70

161,80

-0,90

-0,55%

Bông

US cent/lb

83,85

91,64

+0,79

+0,87%

Lông cừu

US cent/kg

--

--

--

--

Gỗ xẻ

USD/1000 board feet

562,10

597,10

-2,00

-0,33%

Cao su Tokyo

JPY/kg

192,70

188,70

-2,20

-1,15%

Ethanol

USD/gallon

1,45

1,48

+0,00

+0,07%

Nguồn: VITIC/Reuters, Bloomberg