Trên thị trường năng lượng, giấ dầu tăng gần 3% do chứng khoán khởi sắc.
Kết thúc phiên, dầu Brent Biển Bắc tăng 1,68 USD, hay 2,9% lên 60,48 USD/thùng, dầu thô ngọt nhẹ (WTI) tăng 1,21 USD, hay 2,4% và đóng phiên ở mức 51,63 USD/thùng.
Hỗ trợ giá dầu trong phiên này là sự khởi sắc của mạnh mẽ của chứng khoản Mỹ khi Cyber Monday, ngày mua sắm trực tuyến lớn nhất trong năm đã bắt đầu. Giá dầu kỳ hạn đôi khi vẫn dao động theo diễn biến trên thị trường chứng khoán.
Bên cạnh đó, giá dầu cũng nhận được hỗ trợ khi lượng dầu thô dự trữ tại mỏ Cushing ở Oklahoma (Mỹ) chỉ tăng 126 thùng từ ngày 20-23/11, theo báo cáo của công ty nghiên cứu thị trường Genscape.
Tuy nhiên, những lo ngại về ngu cầu và sản lượng kỷ lục từ Saudi Arabia đã hạn chế đà tăng của giá dầu trong phiên này.
Đồng USD trên đà đi lên đã làm suy giảm nhu cầu ở các nền kinh tế thị trường mới nổi, trong khi lãi suất tăng và những nguy cơ đe dọa tăng trưởng toàn cầu đến từ căng thẳng thương mại giữa Mỹ và Trung Quốc đã phần nào khiến giới đầu tư “thờ ơ” với những loại tài sản có quan hệ mật thiết hơn với kinh tế toàn cầu, như chứng khoán và “vàng đen”.
Theo Bloomberg, sản lượng dầu của Arab Saudi đã đạt 11,2 triệu thùng/ngày. Con số này hồi đầu tháng 11 là 10,8 – 10,9 triệu thùng/ngày, khi Arab Saudi phản ứng với lực cầu tăng bất thường, liên quan việc Iran sắp bị Mỹ trừng phạt. Riyadh cũng đang sử dụng dự trữ dầu trong nước và nước ngoài để bổ sung nguồn cung, các giám đốc điều hành trong ngành dầu khí Arab Saudi khi đó cho biết.
Citigroup nhận định, giá dầu sẽ theo xu hướng tăng cho tới cuối năm do nhu cầu từ các nhà máy lọc dầu thường tăng vào tháng 11 và tháng 12. Giám đốc phụ trách nghiên cứu hàng hóa Ed Morse tại Citigroup cho biết, việc giá dầu trung bình đạt 80 USD/thùng trong quý IV là điều rất thực tế, thậm chí giá có thể vọt lên 90 USD hoặc 100 USD/thùng nếu thị trường dầu thô tiếp tục bị gián đoạn và nguồn cung bị thiếu hụt trong khi nhu cầu tiêu thụ vẫn tăng.
Theo dự đoán của ông Morse, Iran có thể tiếp tục bán được khoảng 1 triệu thùng dầu/ngày.
Ngoài Iran, gián đoạn nguồn cung có thể xảy ra ở bất kỳ quốc gia nào khác, như Nigeria, Libya và Venezuela, đặc biệt là Nigeria khi bầu cử đang tới gần, ông Morse cho hay.
Nhìn về triển vọng cho năm 2019, vị giám đốc này cho rằng bức tranh nhu cầu tiêu thụ sẽ thay đổi vì tăng trưởng kinh tế toàn cầu chậm lại, kéo theo nhu cầu về năng lượng. "Trong dài hạn, có rất nhiều cản trở ở phía cầu. Tôi dự đoán nhu cầu tiêu thụ dầu năm 2019 sẽ giảm 500.000 thùng/ngày so với năm nay".
Trên thị trường kim loại quý, giá vàng vững trước triển vọng thiếu chắc chắn về tiến trình nâng lãi suất tại Mỹ và cuộc họp sắp diễn ra giữa các nhà lãnh đạo thế giới tại hội nghị G20. Vàng giao ngay ổn định ở mức 1.222,42 USD/ounce, vàng giao sau vững ở mức 1.222,40 USD/ounce. Giá vàng đã giảm khoảng 10% kể từ mức đỉnh hồi tháng Tư và giảm khoảng 6% kể từ đầu năm tới nay.
Dự kiến Tổng thống Mỹ Donald Trump và Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình sẽ thảo luận về vấn đề bất đồng thương mại giữa hai nền kinh tế tại Hội nghị thượng đỉnh Nhóm các nền kinh tế phát triển và mới nổi hàng đầu thế giới (G20) diễn ra tại Argentina trong hai ngày 30/11 và 1/12 tới.
Walter Pehowich, nhà quản lý cấp cao tại Dillon Gage Metals, nhận định nếu hai nhà lãnh đạo nói trên không thể đi đến một thỏa thuận giải quyết tranh chấp thương mại, Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed) có thể sẽ tạm dừng tiến trình nâng lãi suất vào năm tới và đây sẽ là nhân tố tích cực đối với giá vàng.
Bên cạnh đó, sự thiếu chắc chắn liên quan đến vấn đề Brexit và Italy cũng là nhân tố hỗ trợ giá vàng. Hiện nay, các nhà phân tích vẫn giữ tâm lý thận trọng về thỏa thuận Brexit, khi Quốc hội Anh đang phản đối mạnh mẽ thỏa thuận này.
Theo các chuyên gia, định hướng của giá vàng trong ngắn hạn sẽ chịu sự chi phối của đồng USD, giữa bối cảnh đồng tiền này có thể chịu sức ép nếu Fed có cách tiếp cận thận trọng hơn đối với chính sách lãi suất do những lo ngại về sự giảm tốc của tăng trưởng kinh tế vào năm tới.
Về những kim loại quý khác, palađi tăng 2,2% lên 1.143,49 USD/ounce, sau khi giảm khoảng 3% trong phiên trước đó, đánh dấu phiên giảm mạnh nhất kể từ ngày 15/8/2018.
Trên thị trường kim loại công nghiệp, giá kẽm giảm phiên thứ 2 liên tiếp, do dự kiến nhu cầu từ các nhà máy thép Trung Quốc suy yếu, lấn át dấu hiệu cho thấy rằng thị trường thiếu hụt kẽm.
Giá kẽm giao sau 3 tháng trên sàn London giảm 1,3% xuống 2.487 USD/tấn sau khi giảm 2,4% trong phiên trước đó, mặc dù dự trữ kẽm tại LME giảm 1/2 xuống 121.550 tấn, thấp nhất 10 năm, trong khi dự trữ kẽm tại Thượng Hải đạt 35.000 tấn, giảm so với mức gần 160.000 tấn trong tháng 3/2018. Như vậy, giá kẽm đã giảm 30% từ mức cao nhất hồi tháng 2/2018, do các nhà đầu tư dự đoán sản lượng kẽm tinh chế sẽ tăng sau một loạt các mỏ khai thác mới hoạt động. Giá kẽm kỳ hạn giao sau trên sàn Thượng Hải giảm 2,5%, ngày giảm mạnh nhất kể từ tháng 8/2018.
Giá thép tại Trung Quốc giảm hơn 5% xuống mức thấp nhất 5 tháng, do lo ngại về nhu cầu suy yếu kéo dài. Giá thép cây kỳ hạn giao sau trên sàn Thượng Hải giảm 3,8% xuống 3.553 CNY/tấn, trong phiên có lúc chạm 3.496 CNY (504 USD)/tấn, thấp nhất kể từ ngày 26/6/2018. Như vậy, giá thép cây đã giảm 21% kể từ mức cao đỉnh điểm 7 năm (4.418 CNY/tấn) trong tháng 8/2018. Nguyên nhân chính do nguồn cung thép tại nước sản xuất và tiêu thụ nguyên liệu hàng đầu thế giới – Trung Quốc - tăng, trong khi nhu cầu suy yếu bởi thời tiết lạnh đã khiến hoạt động trong lĩnh vực xây dựng của nước này chậm lại. Trong khi đó, lo ngại tiêu thụ không thể hồi phục mạnh trong mùa xuân khi nền kinh tế Trung Quốc chịu áp lực từ chi tiêu tiêu dùng và doanh số bán bất động sản giảm, xuất khẩu của Trung Quốc sang Mỹ sẽ giảm sớm hơn, do thuế quan của Mỹ tăng cao.
Đồng thời, giá quặng sắt kỳ hạn tháng 1/2019 trên sàn Đại Liên giảm gần 6% xuống 477,5 CNY/tấn, thấp nhất kể từ ngày 30/8/2018, do dự trữ quặng sắt tại các cảng chủ yếu của Trung Quốc tăng 350.000 tấn so với tuần trước đó, lên 140,95 triệu tấn hôm 23/11/2018, SteelHome cho biết.
Trên thị trường nông sản, giá cà phê robusta tăng do lo ngại về khả năng vụ thu hoạch cà phê tại nước sản xuất hàng đầu – Việt Nam – chậm lại, sau khi bị ảnh hưởng bởi cơn bão nhiệt đới, trong khi cà phê arabia giảm thấp nhất gần 2 tháng. Đường quay đầu tăng khỏi mức thấp nhất 7 tuần do giá dầu thô tăng trở lại.
Giá cà phê robusta kỳ hạn tháng 1/2019 tăng 26 USD tương đương 1,6% lên 1.637 USD/tấn, trong khi cà phê arabica kỳ hạn tháng 3/2019 giảm 0,15 US cent tương đương 0,1% xuống 1,108 USD/lb, trong phiên có lúc chạm 1,097 USD/lb, thấp nhất kể từ ngày 4/10/2018, do đồng real Brazil suy yếu.
Giá đường thô kỳ hạn tháng 3/2019 tăng 0,01 US cent tương đương 0,1% lên 12,48 US cent/lg, rời bỏ mức thấp nhất 7 tuần trong phiên trước đó và giá đường trắng giao cùng kỳ hạn tăng 1,3 USD tương đương 0,4% lên 339 USD/tấn.
Giá đậu tương giảm hơn 2%, chạm gần mức thấp nhất 4 tuần, do lo ngại về triển vọng xuất khẩu của Mỹ trong bối cảnh chiến tranh thương mại với Trung Quốc.
Giá đậu tương kỳ hạn tháng 1/2019 trên sàn Chicago giảm 22-1/2 US cent xuống 8,58-1/2 USD/bushel, trong phiên có lúc chạm 8,57 USD/bushel, thấp nhất kể từ ngày 1/11/2018. Giá đậu tương chịu áp lực bởi lo ngại cuộc chiến thương mại kéo dài giữa Mỹ và Trung Quốc – nước nhập khẩu đậu tương lớn nhất thế giới. Trung Quốc đã nhập khẩu đậu tương Brazil và có thể tiếp tục không nhập khẩu đậu tương Mỹ.
Giá cao su kỳ hạn tại Tokyo tăng nhẹ cùng với xu hướng giá cao su tại Thượng Hải tăng mạnh, bất chấp giá các hàng hóa chủ chốt giảm mạnh. Giá cao su kỳ hạn tháng 4/2019 trên sàn TOCOM tăng 0,5 JPY (0,0044 USD) lên 155,2 JPY/kg và giá cao su TSR20 kỳ hạn tháng 5/2019 trên sàn TOCOM tăng 1,7 JPY lên 143,9 JPY/kg. Giá cao su kỳ hạn tháng 1/2019 trên sàn Thượng Hải tăng 240 CNY (34,61 USD)/tấn lên 10.940 CNY/tấn.
Giá hàng hóa thế giới

Mặt hàng

ĐVT

Giá

+/-

+/- (%)

Dầu thô WTI

USD/thùng

51,63

+1,21

+2,4%

Dầu Brent

USD/thùng

60,48

+1,48

+2,9%

Dầu thô TOCOM

JPY/kl

41.310,00

+80,00

+0,19%

Khí thiên nhiên

USD/mBtu

4,20

-0,05

-1,13%

Xăng RBOB FUT

US cent/gallon

143,25

-1,01

-0,70%

Dầu đốt

US cent/gallon

187,93

-1,37

-0,72%

Dầu khí

USD/tấn

566,75

-8,25

-1,43%

Dầu lửa TOCOM

JPY/kl

57.470,00

-630,00

-1,08%

Vàng New York

USD/ounce

1.221,10

-1,30

-0,11%

Vàng TOCOM

JPY/g

4.442,00

-7,00

-0,16%

Bạc New York

USD/ounce

14,32

-0,03

-0,20%

Bạc TOCOM

JPY/g

52,00

-0,70

-1,33%

Bạch kim

USD/ounce

842,08

-1,66

-0,20%

Palađi

USD/ounce

1.145,50

-0,25

-0,02%

Đồng New York

US cent/lb

 

-1,10

-0,40%

Đồng LME

USD/tấn

6.189,00

-18,00

-0,29%

Nhôm LME

USD/tấn

1.951,50

+2,50

+0,13%

Kẽm LME

USD/tấn

2.487,00

-32,00

-1,27%

Thiếc LME

USD/tấn

18.900,00

+100,00

+0,53%

Ngô

US cent/bushel

368,00

0,00

0,00%

Lúa mì CBOT

US cent/bushel

513,75

-0,25

-0,05%

Lúa mạch

US cent/bushel

284,00

-0,25

-0,09%

Gạo thô

USD/cwt

10,75

-0,01

-0,09%

Đậu tương

US cent/bushel

860,00

-2,25

-0,26%

Khô đậu tương

USD/tấn

304,30

-0,80

-0,26%

Dầu đậu tương

US cent/lb

27,22

+0,03

+0,11%

Hạt cải WCE

CAD/tấn

471,40

-0,40

-0,08%

Cacao Mỹ

USD/tấn

2.116,00

-6,00

-0,28%

Cà phê Mỹ

US cent/lb

110,80

-0,15

-0,14%

Đường thô

US cent/lb

12,48

+0,01

+0,08%

Nước cam cô đặc đông lạnh

US cent/lb

140,05

-1,55

-1,09%

Bông

US cent/lb

78,58

+1,36

+1,76%

Lông cừu (SFE)

US cent/kg

--

--

--

Gỗ xẻ

USD/1000 board feet

355,70

-6,60

-1,82%

Cao su TOCOM

JPY/kg

156,60

+1,40

+0,90%

Ethanol CME

USD/gallon

1,27

-0,02

-1,40%

Nguồn: VITIC/Reuters, Bloomberg