Theo số liệu của Tổng cục Hải quan, kim ngạch thương mại hai chiều giữa Việt Nam và Canada đạt 3,52 tỷ USD vào năm 2017, tăng 15,3% so với năm 2016. Kết thúc năm 2018 đạt 3,85 tỷ USD, tăng 9,3% so với năm 2017, trong đó Việt Nam xuất siêu 2,1 tỷ USD.

Sang tháng đầu năm 2019, kim ngạch thương mại giữa hai nước đạt 379 triệu USD, trong đó xuất khẩu đạt 317 triệu USD, tăng 17,19% so với tháng 12/2018 và tăng 33,83% so với cùng kỳ năm trước. Nhập khẩu đạt 62,62 triệu USD, giảm 6,64% so với tháng 12/2018 nhưng tăng 6,85% so với tháng 1/2018.
Như vậy, kết thúc tháng 1/2019 Việt Nam đã xuất siêu sang Canada trên 250 triệu USD.
Việt Nam xuất sang Canada chủ yếu các mặt hàng công nghiệp như dệt may, giày dép, phương tiện vận tải và phụ tùng… trong đó dệt may là mặt hàng đạt kim ngạch cao nhất 68,96 triệu USD, chiếm 21,75% tỷ trọng tăng 46,34% so với cùng kỳ, nhưng giảm 1,54% so với tháng cuối năm 2018 – đây cũng là thị trường tiềm năng nhất co ngành dệt may Việt Nam. Phó chủ tịch Hiệp hội Dệt may Việt Nam, Lê Tiến Trường cho hay, hiện nay gần như dệt may Việt Nam chiếm thị phần rất nhỏ tại thị trường này, trong khi đó, thị trường Canada dùng đến cả chục tỷ USD hàng hóa dệt may. Cải thiện được thị phần ở đây có thể đem về cho Việt Nam hàng tỷ USD kim ngạch.
Đứng thứ hai về kim ngạch là mặt hàng giày dép đạt 32,91 triệu USD trong tháng 1/2019, tăng 43,74% so với cùng kỳ năm trước và tăng 1,75% so với tháng 12/2018.
Đối với mặt hàng phương tiện vận tải và phụ tùng, tuy kim ngạch đứng thứ ba sau hàng dệt may và giày dép, nhưng so với cùng kỳ năm trước giảm 19,24%, nhưng nếu so với tháng 12/2018 tăng 20,71% đạt 19,76 triệu USD.
Ngoài ra, Việt Nam còn xuất sang Canada các mặt hàng như thủy sản, gỗ và sản phẩm từ gỗ, cà phê, hạt điều, sản phẩm từ sắt thép….
Nhìn chung, tháng đầu năm 2019 kim ngạch hàng hóa của Việt Nam xuất sang thị trường Canada hầu hết đều tăng trưởng, số mặt hàng này chiếm 66,66%, đặc biệt thời gian này Canada tăng mạnh nhập khẩu máy móc thiết bị, dụng cụ phụ tùng từ Việt Nam, tuy kim ngạch chỉ đạt 14 triệu USD, nhưng so với cùng kỳ tăng gấp hơn 2 lần (tức tăng 131,11%), mặc dù so với tháng 12/2018 kim ngạch nhóm hàng này giảm 8,54%.
Ngoài ra, Canada cũng tăng mạnh nhập khẩu mặt hàng túi xách, ví, vali, mũ và ô dù với mức tăng 65,96% đạt 7,62 triệu USD.
Ở chiều ngược lại, các mặt hàng nông sản xuất sang Canada lại giảm mạnh nếu có tăng thì cũng chỉ ở mức thấp. Như hạt điều giảm nhiều nhất, 53% về lượng và 65,13% trị giá, tương ứng với 619 tấn, trị giá 5,25 triệu USD, giá xuất bình quân cũng giảm 25,79% tương ứng 8.490,14 USD/tấn; Cao su giảm 19,76% về lượng; 19,27% giá xuất bình quân và 35,22% trị giá với lần lượt 463 tấn; 1.305 USD/tấn và 604,21 nghìn USD.
Bên cạnh đó, xuất khẩu sản phẩm từ sắt thép, máy ảnh máy quay phim và linh kiện cũng giảm mạnh đứng sau mặt hàng hạt điều, giảm tương ứng 42,07% và 41,12% chỉ với 3,35 triệu USD; 111,1 nghìn USD.
Đối với mặt hàng thủy sản, đây cũng là một trong những mặt hàng có tiềm năng lớn khi xuất sang Canada, đặc biệt là tôm. Theo Cục quản lý chất lượng Nông Lâm sản và Thủy sản, Canada có những yêu cầu về thủy sản khắt khe. Vì vậy, việc xuất khẩu sang thị trường Canada sẽ giúp thủy sản Việt Nam tiếp cận dễ dàng hơn với các thị trường khó tính khác.
Hàng hóa xuất khẩu sang thị trường Canada tháng 1/2019

Mặt hàng

T1/2019

+/- so với cùng kỳ 2018 (%)*

Lượng (Tấn)

Trị giá (USD)

Lượng

Trị giá

Tổng

 

317.058.925

 

33,83

Hàng dệt, may

 

68.961.589

 

46,34

Giày dép các loại

 

32.914.017

 

43,74

Phương tiện vận tải và phụ tùng

 

19.766.334

 

-19,24

Hàng thủy sản

 

19.410.302

 

27,2

Gỗ và sản phẩm gỗ

 

18.019.461

 

13,93

Máy vi tính, sản phẩm điện tử và linh kiện

 

17.857.007

 

13,1

Máy móc, thiết bị, dụng cụ, phụ tùng khác

 

14.012.646

 

131,11

Túi xách, ví,vali, mũ và ô dù

 

7.627.656

 

65,96

Hạt điều

619

5.255.399

-53

-65,12

Kim loại thường khác và sản phẩm

 

5.038.565

 

3,02

Sản phẩm từ chất dẻo

 

4.260.124

 

29,11

Đồ chơi, dụng cụ thể thao và bộ phận

 

4.126.818

 

-9,87

Sản phẩm từ sắt thép

 

3.353.850

 

-42,07

Vải mành, vải kỹ thuật khác

 

2.476.754

 

48,05

Hàng rau quả

 

1.840.534

 

-8,86

Cà phê

887

1.603.731

18,74

9,1

Bánh kẹo và các sản phẩm từ ngũ cốc

 

1.182.184

 

48,99

Sản phẩm mây, tre, cói và thảm

 

1.046.478

 

0,87

Sản phẩm gốm, sứ

 

1.011.796

 

41,14

Hạt tiêu

243

782.844

32,07

-12,45

Thủy tinh và các sản phẩm từ thủy tinh

 

636.882

 

39,39

Cao su

463

604.216

-19,76

-35,22

Máy ảnh, máy quay phim và linh kiện

 

111.187

 

-41,12

Chất dẻo nguyên liệu

17

55.313

-15

47,81

(*Vinanet tính toán số liệu từ TCHQ)