Theo số liệu của Cục Hải quan, trong 6 tháng đầu năm 2026, tổng kim ngạch thương mại hai chiều Việt Nam – EU đạt khoảng 41,7 tỷ USD, tăng khoảng 15% so với cùng kỳ năm 2025. Tính riêng tháng 6/2026, kim ngạch thương mại song phương đạt khoảng 7,4 tỷ USD, trong đó xuất khẩu của Việt Nam sang EU đạt khoảng 5,75 tỷ USD và nhập khẩu từ EU đạt khoảng 1,65 tỷ USD.
Trên cơ sở diễn biến thương mại trong tháng 7, lũy kế 7 tháng đầu năm 2026, xuất khẩu của Việt Nam sang EU ước đạt khoảng 37,3–37,5 tỷ USD, nhập khẩu từ EU đạt khoảng 11,4–11,5 tỷ USD, đưa tổng kim ngạch thương mại hai chiều lên khoảng 48,7–49,0 tỷ USD. Quy mô thương mại tiếp tục mở rộng cho thấy nhu cầu của thị trường EU đối với hàng hóa Việt Nam vẫn duy trì ổn định, đồng thời doanh nghiệp Việt Nam ngày càng khai thác hiệu quả hơn các ưu đãi thuế quan và cơ hội tiếp cận thị trường mà EVFTA mang lại.
Một trong những điểm nổi bật của quan hệ thương mại Việt Nam – EU là cán cân thương mại tiếp tục nghiêng mạnh về phía Việt Nam. Trong tháng 6/2026, Việt Nam xuất siêu khoảng 3,6–3,8 tỷ USD sang EU; lũy kế 7 tháng đầu năm, mức thặng dư thương mại ước đạt khoảng 25,8–26,1 tỷ USD. Mức xuất siêu cao và ổn định phản ánh năng lực cạnh tranh ngày càng được cải thiện của hàng hóa Việt Nam tại thị trường EU, đặc biệt đối với các nhóm hàng công nghiệp chế biến, chế tạo như điện thoại, máy vi tính và linh kiện, máy móc thiết bị, dệt may, giày dép, đồ gỗ, cùng các mặt hàng nông, lâm, thủy sản có giá trị gia tăng cao như cà phê, hạt điều, hồ tiêu, rau quả và thủy sản chế biến. Trong khi đó, nhập khẩu từ EU chủ yếu là máy móc, thiết bị công nghệ cao, dược phẩm, hóa chất, nguyên liệu và linh kiện phục vụ sản xuất, góp phần hỗ trợ quá trình hiện đại hóa sản xuất và nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp trong nước.
Tình hình xuất nhập khẩu, cán cân thương mại của Việt Nam – EU trong tháng 6, lũy kế 6 tháng và ước tính 7 tháng 2026
 |
|
VITIC tính toán từ số liệu của Cục Hải quan Việt Nam
|
Tình hình xuất khẩu hàng hóa từ Việt Nam sang EU
Theo số liệu của Cục Hải quan và Cục Thống kê, lũy kế 6 tháng đầu năm 2026, kim ngạch xuất khẩu sang EU đạt khoảng 31,8 tỷ USD, tăng trên 16% so với cùng kỳ năm trước, cho thấy nhu cầu nhập khẩu của thị trường châu Âu đang từng bước phục hồi. Trong tháng 6/2026, kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam sang thị trường EU đạt 5,753 tỷ USD, tăng 4,32% so với tháng 5/2026 và tăng mạnh 32,86% so với cùng kỳ năm 2025. Điều này cho thấy nhu cầu nhập khẩu của thị trường EU đang phục hồi tích cực, đồng thời doanh nghiệp Việt Nam tiếp tục tận dụng tốt các ưu đãi thuế quan từ EVFTA để mở rộng thị phần tại khu vực này.
Xét theo từng thị trường thành viên, Hà Lan tiếp tục là thị trường xuất khẩu lớn nhất của Việt Nam trong EU với kim ngạch 1,438 tỷ USD, chiếm khoảng 25% tổng kim ngạch xuất khẩu sang EU trong tháng. Kim ngạch xuất khẩu sang Hà Lan tăng 9,9% so với tháng trước và tăng 35,9% so với cùng kỳ năm 2025; lũy kế 6 tháng đạt 7,838 tỷ USD, tăng 25,3%. Điều này cho thấy Hà Lan vẫn giữ vai trò là trung tâm trung chuyển hàng hóa của Việt Nam vào thị trường châu Âu thông qua hệ thống cảng Rotterdam và mạng lưới logistics phát triển.
Đức tiếp tục là đối tác thương mại lớn thứ hai của Việt Nam trong EU. Mặc dù kim ngạch tháng 6/2026 đạt 982,4 triệu USD, giảm 9,6% so với tháng trước, nhưng vẫn tăng rất mạnh 46,5% so với cùng kỳ năm trước. Lũy kế 6 tháng đầu năm đạt 5,701 tỷ USD, tăng 20,0%. Điều này phản ánh nhu cầu nhập khẩu tại Đức đã cải thiện đáng kể so với năm 2025, đặc biệt đối với các nhóm hàng điện tử, máy móc, dệt may và giày dép của Việt Nam.
Đối với Ý, xuất khẩu trong tháng đạt 415,9 triệu USD, giảm 9,1% so với tháng trước và giảm nhẹ 2,4% so với cùng kỳ năm 2025. Lũy kế 6 tháng đạt 2,659 tỷ USD, giảm 0,3%, cho thấy đây là một trong số ít thị trường lớn của EU vẫn chưa phục hồi hoàn toàn về nhu cầu nhập khẩu.
Trong khi đó, nhiều thị trường lớn khác ghi nhận mức tăng trưởng tích cực. Tây Ban Nha đạt 428,0 triệu USD, tăng 28,6% so với cùng kỳ; lũy kế 6 tháng tăng 11,0%. Pháp đạt 395,0 triệu USD, tăng 21,9%; lũy kế tăng 15,1%. Ba Lan đạt 361,9 triệu USD, tăng 43,6%; lũy kế tăng 19,5%. Bỉ đạt 421,3 triệu USD, tăng 23,4%; lũy kế tăng 9,5%. Những kết quả này cho thấy xuất khẩu của Việt Nam không chỉ tập trung vào các thị trường truyền thống mà còn mở rộng sang các thị trường Đông và Nam Âu.
Đáng chú ý, một số thị trường có quy mô nhỏ hơn ghi nhận tốc độ tăng trưởng rất cao. Séc tăng tới 188,6% so với cùng kỳ tháng 6/2025 và tăng 59,6% trong 6 tháng đầu năm. Hungary tăng 172,5% trong tháng và tăng 102,9% trong 6 tháng. Luxembourg tăng 284,9% trong tháng và tăng 81,0% trong nửa đầu năm. Những mức tăng này cho thấy doanh nghiệp Việt Nam đang từng bước đa dạng hóa thị trường trong EU, giảm dần sự phụ thuộc vào các thị trường truyền thống như Đức, Hà Lan và Pháp.
Tuy nhiên, bên cạnh xu hướng tăng trưởng tích cực, vẫn còn một số thị trường ghi nhận mức suy giảm. Slovakia giảm 59,9% trong tháng và giảm 37,4% trong 6 tháng đầu năm; Romania giảm 26,1% trong tháng và giảm 21,3% lũy kế; Lithuania giảm 26,8% trong tháng và giảm 40,1% trong 6 tháng; Ireland mặc dù tăng mạnh trong tháng (36,1%) nhưng lũy kế 6 tháng vẫn giảm 29,3%. Điều này cho thấy nhu cầu nhập khẩu tại một số nền kinh tế EU vẫn chưa phục hồi đồng đều, đồng thời cơ cấu hàng xuất khẩu của Việt Nam vào các thị trường này còn phụ thuộc vào một số nhóm hàng nhất định.
Tình hình nhập khẩu hàng hóa của Việt Nam từ EU
Trong tháng 6/2026, kim ngạch nhập khẩu hàng hóa của Việt Nam từ Liên minh châu Âu (EU) đạt khoảng 1,65 tỷ USD, tăng khoảng 3,27% so với cùng kỳ năm 2025. Lũy kế 6 tháng đầu năm 2026, nhập khẩu từ EU đạt khoảng 9,65 tỷ USD, tăng khoảng 15,8% so với cùng kỳ năm trước.
Về cơ cấu thị trường nhập khẩu, Đức tiếp tục là đối tác cung ứng lớn nhất của EU cho Việt Nam với kim ngạch 401,4 triệu USD, chiếm khoảng 24,3% tổng nhập khẩu từ EU trong tháng 6 và tăng 23,2% so với cùng kỳ năm trước. Lũy kế 6 tháng, nhập khẩu từ Đức đạt 2,301 tỷ USD, tăng 21,6%, phản ánh vai trò của Đức là nguồn cung chủ yếu về máy móc, thiết bị công nghiệp, ô tô, hóa chất và thiết bị điện cho Việt Nam. Ireland đứng thứ hai với 242,3 triệu USD, mặc dù giảm 22,1% so với cùng kỳ tháng 6 và giảm 2,0% trong 6 tháng đầu năm. Đây là điểm đáng chú ý bởi Ireland là trung tâm sản xuất dược phẩm, thiết bị y tế và linh kiện điện tử của nhiều tập đoàn đa quốc gia; sự sụt giảm có thể phản ánh biến động đơn hàng hoặc chu kỳ nhập khẩu của các doanh nghiệp FDI tại Việt Nam.
Một số thị trường có tốc độ tăng trưởng nổi bật trong tháng gồm Romania (tăng 157,7%), Bulgaria (tăng 146,7%), Latvia (tăng 90,5%) và Phần Lan (tăng 62,3%). Tuy quy mô kim ngạch còn nhỏ, mức tăng này cho thấy hoạt động nhập khẩu của Việt Nam đang có xu hướng mở rộng sang các thị trường thành viên mới của EU, góp phần đa dạng hóa nguồn cung thay vì chỉ tập trung vào các đối tác truyền thống như Đức, Pháp hay Italia.
Ngược lại, một số thị trường ghi nhận mức giảm khá mạnh. Áo giảm 43,1%, Hy Lạp giảm 44,6%, Bồ Đào Nha giảm 55,1% và Malta giảm tới 59,6% so với cùng kỳ năm trước. Tuy nhiên, phần lớn đây đều là các thị trường có quy mô nhập khẩu tương đối nhỏ nên tác động đến tổng kim ngạch nhập khẩu từ EU không lớn.