Dự thảo Nghị quyết của Chính phủ định hướng chuyển từ tiền kiểm sang hậu kiểm, đơn giản hóa thủ tục, giảm chi phí tuân thủ cho người dân, hợp tác xã và doanh nghiệp, đồng thời vẫn bảo đảm hiệu quả quản lý nhà nước và nâng cao năng lực cạnh tranh của nông sản Việt.
Chuyển từ tiền kiểm sang hậu kiểm, giảm mạnh thủ tục cấp mã
Theo Bộ Nông nghiệp và Môi trường, dự thảo Nghị quyết được xây dựng nhằm tháo gỡ các khó khăn phát sinh trong quá trình thực hiện Nghị định số 38/2026/NĐ-CP, đồng thời tạo cơ sở pháp lý để duy trì hoạt động cấp mã số vùng trồng và mã số cơ sở đóng gói trong thời gian chờ sửa đổi toàn diện Nghị định theo trình tự, thủ tục rút gọn.
Thông tin về những nội dung trọng tâm của dự thảo, ông Huỳnh Tấn Đạt, Cục trưởng Cục Trồng trọt và Bảo vệ thực vật (Bộ Nông nghiệp và Môi trường) cho biết, điểm thay đổi lớn nhất là chuyển cách tiếp cận từ mô hình tiền kiểm với nhiều thành phần hồ sơ, nhiều bước xác minh trước khi cấp mã sang cơ chế đơn giản hóa tối đa thủ tục, đồng thời tăng cường trách nhiệm quản lý sau khi mã số đã được cấp.
Theo đó, hồ sơ đề nghị cấp mã số vùng trồng hoặc mã số cơ sở đóng gói được rút gọn chỉ còn đơn đề nghị theo mẫu. Người dân, hợp tác xã và doanh nghiệp thực hiện nộp hồ sơ trực tuyến thông qua Cổng dịch vụ công quốc gia.
Trong thời hạn tối đa 3 ngày làm việc kể từ khi nhận đủ hồ sơ hợp lệ, cơ quan được UBND cấp tỉnh giao nhiệm vụ phải thông báo cấp mã hoặc trả lời bằng văn bản nếu từ chối và nêu rõ lý do.
Đối với trường hợp chỉ thay đổi người đại diện, địa giới hành chính hoặc bổ sung thị trường xuất khẩu, thời gian xử lý tiếp tục được rút xuống còn 2 ngày làm việc.
Theo ông Huỳnh Tấn Đạt, quy định này sẽ góp phần cắt giảm đáng kể thời gian thực hiện thủ tục, giảm chi phí tuân thủ và tạo thuận lợi cho hoạt động sản xuất, xuất khẩu nông sản.
Đáng chú ý, mã số vùng trồng theo khoản 1 Điều 64 Luật Trồng trọt được sửa đổi, bổ sung bởi Luật số 146/2025/QH15 sẽ được cấp cho một loại cây trồng xác định theo vị trí của một hoặc nhiều thửa đất theo đề nghị của tổ chức, cá nhân, hộ gia đình hoặc nhóm hộ gia đình
Chủ tịch UBND cấp tỉnh sẽ phân công cơ quan chuyên môn thực hiện cấp và quản lý mã số vùng trồng, mã số cơ sở đóng gói phù hợp với mô hình chính quyền địa phương hai cấp, đồng thời xác định rõ đầu mối chịu trách nhiệm toàn diện tại địa phương.
Lấy dữ liệu số làm nền tảng quản lý
Theo Cục Trồng trọt và Bảo vệ thực vật, đơn giản hóa thủ tục không đồng nghĩa với nới lỏng quản lý.
Nền tảng của mô hình mới là hệ thống dữ liệu số tập trung. Toàn bộ dữ liệu về mã số vùng trồng và mã số cơ sở đóng gói sẽ được quản lý trên hệ thống xử lý nghiệp vụ của Bộ Nông nghiệp và Môi trường, đồng thời công khai trên cổng thông tin điện tử của Bộ nhằm bảo đảm tính minh bạch và khả năng truy xuất.
Dự thảo Nghị quyết đưa ra hai phương án để lấy ý kiến. Ở phương án 1, mã số vùng trồng sẽ được gắn với mã định danh thửa đất trong cơ sở dữ liệu đất đai quốc gia. Nếu thửa đất đã có mã định danh, người dân chỉ cần khai báo trực tiếp; trường hợp chưa có sẽ phối hợp với UBND cấp xã để tạo lập mã định danh.
Trong khi đó, phương án 2 ưu tiên xử lý ngay các vướng mắc trước mắt liên quan đến diện tích, cây trồng xen và thủ tục hành chính, còn việc tích hợp với cơ sở dữ liệu đất đai sẽ được thực hiện sau khi hệ thống dữ liệu quốc gia hoàn thiện.
Qua quá trình lấy ý kiến, nhiều địa phương đã đưa ra các đề xuất nhằm hoàn thiện cơ chế quản lý. Bà Nguyễn Thị Tố Trân, Phó Giám đốc Sở Nông nghiệp và Môi trường Gia Lai cho rằng, cần quy định rõ trách nhiệm của UBND cấp xã trong việc xác nhận nguồn gốc và tình trạng sử dụng đất, tránh dồn toàn bộ trách nhiệm pháp lý cho cơ quan chuyên môn cấp tỉnh.
Đại diện Sở Nông nghiệp và Môi trường Lâm Đồng, ông Vũ Đình Cường cơ bản đồng tình với phương án 2 theo hướng đơn giản hóa thủ tục, nhưng đề nghị giao cấp xã thực hiện tiền kiểm đối với mã số vùng trồng, đồng thời vẫn duy trì quy định xác nhận đối với trường hợp chưa có mã định danh thửa đất.
Trong khi đó, bà Đặng Thị Thủy, Phó Giám đốc Sở Nông nghiệp và Môi trường Đắk Lắk nghiêng về phương án gắn mã số vùng trồng với mã định danh thửa đất. Theo bà, cách làm này sẽ giúp quản lý thống nhất từ Trung ương đến địa phương, đồng thời giảm rủi ro pháp lý cho đội ngũ cán bộ chuyên môn.
Đại diện Đồng Tháp cũng thống nhất lựa chọn phương án 2, song đề xuất giao cấp xã thực hiện cả tiền kiểm và hậu kiểm đối với mã số vùng trồng, trong khi việc quản lý mã số cơ sở đóng gói vẫn do cấp tỉnh đảm nhiệm.
Mã số vùng trồng không chỉ để xuất khẩu
Kết luận hội thảo, Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường Nguyễn Hoàng Hiệp nhấn mạnh, việc đổi mới công tác cấp và quản lý mã số vùng trồng, mã số cơ sở đóng gói không chỉ phục vụ xuất khẩu mà còn hướng tới quản lý toàn bộ quá trình sản xuất, truy xuất nguồn gốc và bảo đảm an toàn thực phẩm cho cả thị trường trong nước.
Theo Thứ trưởng, đơn giản hóa thủ tục không có nghĩa là giảm yêu cầu quản lý. Đối với nông sản xuất khẩu, thời gian tiền kiểm khoảng 10 ngày vẫn cần thiết để cơ quan chuyên môn đánh giá đầy đủ khả năng đáp ứng các yêu cầu của nước nhập khẩu, qua đó hạn chế rủi ro ảnh hưởng đến uy tín và thương hiệu nông sản Việt Nam.
Ngay sau hội thảo, Bộ Nông nghiệp và Môi trường sẽ tiếp thu đầy đủ các ý kiến góp ý, hoàn thiện dự thảo Nghị quyết, lấy ý kiến các bộ, ngành liên quan trước khi trình Chính phủ xem xét ban hành.
Dự thảo cũng sẽ quy định rõ trách nhiệm của cơ quan chuyên môn trong việc tổng hợp, chuyển danh sách mã số vùng trồng, mã số cơ sở đóng gói đến cơ quan có thẩm quyền của nước nhập khẩu, bảo đảm thống nhất đầu mối và đáp ứng yêu cầu của từng thị trường.
Song song với đó, Bộ đề nghị các địa phương khẩn trương rà soát, chuẩn hóa cơ sở dữ liệu vùng trồng và cơ sở đóng gói; đẩy mạnh phát triển hợp tác xã, tổ hợp tác, xây dựng các vùng nguyên liệu tập trung có quy mô phù hợp. Đây được xem là nền tảng quan trọng để nâng cao hiệu quả quản lý, giảm chi phí tuân thủ, tăng khả năng truy xuất nguồn gốc và xây dựng thương hiệu nông sản.
Đối với thị trường Trung Quốc - thị trường xuất khẩu nông sản lớn nhất của Việt Nam, Bộ sẽ tiếp tục chủ động làm việc với cơ quan chức năng nước bạn nhằm thúc đẩy công nhận các mã số vùng trồng, mã số cơ sở đóng gói đã gửi; đồng thời điều chỉnh quy trình tiếp nhận theo hướng phù hợp với mùa vụ, tăng cường truy xuất nguồn gốc, bảo đảm an toàn thực phẩm và kiểm dịch thực vật.
Theo Bộ Nông nghiệp và Môi trường, việc tháo gỡ kịp thời các vướng mắc trong cấp và quản lý mã số vùng trồng, mã số cơ sở đóng gói sẽ góp phần duy trì dòng chảy xuất khẩu nông sản, nâng cao năng lực cạnh tranh của nông sản Việt Nam trên thị trường quốc tế và tạo tiền đề quan trọng để hoàn thành mục tiêu kim ngạch xuất khẩu nông, lâm, thủy sản đạt 74 tỷ USD trong năm 2026.