Hiện tại Việt Nam đang nỗ lực giảm bớt sự phụ thuộc vào nguồn nguyên liệu nhập khẩu (vốn chiếm đến 65-70% nhu cầu trước). Các doanh nghiệp và người dân đã đẩy mạnh việc chuyển đổi cơ cấu cây trồng, tăng diện tích trồng ngô, đậu tương sinh khối hoặc tận dụng phế phụ phẩm nông nghiệp (cám gạo, bã bia, vỏ tôm, bột cá...) để phối trộn thức ăn. Đồng thời, sự phát triển của các nhà máy sản xuất nguyên liệu bổ trợ trong nước giúp giảm bớt lượng đơn hàng đặt từ nước ngoài.
Nhìn chung, lượng kim ngạch nhập khẩu TĂCN&NL giảm trong 4 tháng đầu năm 2026 là kết quả tổng hòa của việc giá nguyên liệu thế giới hạ nhiệt, kết hợp với sự chủ động hơn từ nguồn cung nội địa và những điều chỉnh quy mô đàn của ngành chăn nuôi trong nước.
TĂCN nhập khẩu nhiều nhất từ thị trường Hoa Kỳ trong 4 tháng đầu năm 2026, chiếm 21,99% trong tổng kim ngạch nhập khẩu, đạt gần 291 triệu USD, tăng 28,13% so với 4 tháng đầu năm 2025; trong đó riêng tháng 4/2026 đạt 51,3 triệu USD, giảm 29,14% so với tháng 3/2026 và giảm 12,31% so với tháng 4/2025.
Đứng thứ 2 về kim ngạch là thị trường Achentina chiếm tỷ trọng 16,99%, đạt trên 224,8 triệu USD, giảm mạnh 67,07% so với cùng kỳ năm 2025; riêng tháng 4/2026 nhập khẩu từ thị trường này đạt 21,63 triệu USD, giảm 67,11% so với tháng 3/2026 và giảm mạnh 88,44% so với tháng 4/2025.
Tiếp đến thị trường Trung Quốc trong tháng 4/2026 tăng 43,36% so với tháng 3/2026 và tăng 133,55% so với tháng 4/2025, đạt 60,54 triệu USD; cộng chung cả 4 tháng đầu năm 2026 nhập khẩu từ thị trường này tăng 59,74% so với 4 tháng đầu năm 2025, đạt 165 triệu USD, chiếm 12,47% trong tổng kim ngạch nhập khẩu nhóm hàng này của cả nước.
Đáng chú ý, một số thị trường tuy kim ngạch nhỏ, nhưng so với cùng kỳ năm 2025 lại tăng mạnh như: Ấn Độ tăng 123,46%, Cannada tăng 489,35% và Tây Ban Nha tăng 104,41%, Đức tăng 136,04%.
Nhập khẩu thức ăn chăn nuôi và nguyên liệu 4 tháng đầu năm 2026

Nguồn: Tính toán từ số liệu của Cục Hải quan

 

Nguồn: Vinanet/VITIC