Trong đó, xuất khẩu máy móc thiết bị của khối DN FDI trong tháng 5/2026 đạt 5,8 tỷ USD, tăng 1,84% so với tháng trước và tăng 21,37% so với tháng 5/2025. Tổng kim ngạch xuất khẩu máy móc thiết bị của khối DN này trong 5 tháng đầu năm 2026 đạt 25,69 tỷ USD, tăng 24,08% so với cùng kỳ năm 2025; chiếm tỷ trọng 95,24% tổng nhập khẩu máy móc thiết bị của cả nước (mở rộng so với mức 93,7% của 5 tháng đầu năm 2025)..
Hoa Kỳ tiếp tục duy trì vị thế là thị trường tiêu thụ máy móc, thiết bị, dụng cụ và phụ tùng lớn nhất của Việt Nam trong 5 tháng đầu năm 2026 với kim ngạch 11,2 tỷ USD, tăng 20,98% so với cùng kỳ năm 2025; chiếm tỷ trọng 41,56% tổng kim ngạch xuất khẩu máy móc thiết bị của cả nước (thu hẹp so với mức 41,93% của cùng kỳ năm 2025). Riêng trong tháng 5/2026, xuất khẩu máy móc thiết bị sang Hoa Kỳ đạt gần 2,53 tỷ USD, giảm nhẹ 0,71% so với tháng trước nhưng tăng 19,96% so với tháng 5/2025. Rủi ro tập trung thị trường ở mức cao khi Hoa Kỳ nắm giữ hơn 41% thị phần. Bất kỳ sự thay đổi nào về chính sách thuế quan hay rào cản thương mại từ phía Hoa Kỳ (ví dụ các sắc lệnh về thuế nhập khẩu) sẽ ngay lập tức tác động trực tiếp đến toàn ngành.
Thị trường xuất khẩu máy móc thiết bị lớn thứ hai là EU với kim ngạch 5 tháng đạt gần 2,99 tỷ USD, tăng 4,42% so với 5 tháng đầu năm 2025; chiếm tỷ trọng 11,08% (thu hẹp so với mức 12,95% của cùng kỳ năm 2025). Trong đó, Hà Lan (946,52 triệu USD) và Đức (605,51 triệu USD) là hai cửa ngõ lớn nhất của máy móc Việt Nam vào EU với tổng tỷ trọng chiếm gần 52%; cả hai đều tăng trưởng nhẹ (lần lượt là 3,79% và 2,34%). Dù tổng cầu 5 tháng của EU tăng trưởng chậm, nhưng kim ngạch xuất khẩu riêng trong tháng 5/2026 tăng khá mạnh 18,38% so với tháng trước và 20,23% so với cùng kỳ. Việc xuất hiện các dòng đơn hàng đột biến trong tháng 5/2026 tại các thị trường ngách (Bỉ, Phần Lan, Ba Lan) cho thấy có sự dịch chuyển cục bộ về cảng đích hoặc các dự án công nghiệp ngắn hạn tại khu vực này mà doanh nghiệp cần tận dụng khai thác.
Trung Quốc và Hồng Kông là hai thị trường có tốc độ mở rộng quy mô nhanh nhất (tăng trưởng lần lượt 46,25% và 69,33%). Sự dịch chuyển này có thể do nhu cầu tái xuất khẩu hoặc tích hợp chuỗi cung ứng khu vực.
Cụ thể, Trung Quốc là thị trường xuất khẩu lớn thứ ba với kim ngạch đạt trên 2,62 tỷ USD, tăng 46,25% so với 5 tháng đầu năm 2025; chiếm tỷ trọng 9,72% (mở rộng so với mức tỷ trọng 8,11% của cùng kỳ năm 2025). Tốc độ tăng trưởng mạnh cho thấy sự dịch chuyển chuỗi cung ứng và nhu cầu linh kiện, máy móc từ Trung Quốc tăng đột biến.
Xuất khẩu máy móc thiết bị của Việt Nam sang thị trường Hồng Kông trong 5 tháng đầu năm nay đạt gần 2,06 tỷ USD, tăng 69,33% so với cùng kỳ năm 2025; chiếm tỷ trọng 7,64% (mở rộng so với mức 5,51% của 5 tháng đầu năm 2025).
Tiếp đến là các thị trường: ASEAN chiếm 6,28%; Hàn Quốc chiếm 4,69%; Nhật Bản chiếm 4,66%; Đài Loan chiếm 2,16%; Ấn Độ chiếm 1,99%...
Đáng chú ý, nhập khẩu từ một số thị trường tăng mạnh so với cùng kỳ năm 2025 như: Myanmar tăng 131,75%; Canada tăng 80,39%; Australia tăng 83,17%; Na Uy tăng 156,75%; Mozambique tăng 176,06%; Iceland tăng 93,54%.
Thị trường xuất khẩu máy móc, thiết bị của Việt Nam trong tháng 5 và 5 tháng đầu năm 2026
 |
|
Nguồn: Tính toán từ số liệu thống kê sơ bộ của Cục Hải quan
|