ASEAN tiếp tục là thị trường xuất khẩu sắt thép lớn nhất của Việt Nam trong 4 tháng đầu năm 2026, chiếm 36,92% tỷ trọng trong tổng lượng thép xuất khẩu của Việt Nam. Xuất khẩu sắt thép của Việt Nam sang thị trường ASEAN trong 4 tháng đầu năm 2026 đạt 1,43 triệu tấn, trị giá 840,9 triệu USD, tăng 15,57% về lượng và tăng 13,79% về trị giá so với cùng kỳ năm 2025. Động lực tăng trưởng chủ yếu đến từ nhu cầu xây dựng hạ tầng, bất động sản và công nghiệp tại các nước Đông Nam Á tiếp tục phục hồi tích cực. ASEAN tiếp tục đóng vai trò là khu vực “bệ đỡ” cho xuất khẩu thép Việt Nam nhờ lợi thế khoảng cách địa lý, chi phí vận chuyển thấp và ưu đãi thuế quan nội khối.
Xuất khẩu sắt thép của Việt Nam sang thị trường EU trong 4 tháng đầu năm 2026 đạt 627,03 nghìn tấn, trị giá 399,08 triệu USD, giảm 14,55% về lượng và 20,49% về trị giá so với cùng kỳ năm 2025. Đây là khu vực ghi nhận mức suy giảm mạnh nhất trong số các thị trường xuất khẩu sắt thép lớn của Việt Nam. Nguyên nhân chủ yếu do nhu cầu tiêu thụ thép tại châu Âu phục hồi chậm do tăng trưởng kinh tế thấp; chi phí năng lượng cao tiếp tục ảnh hưởng tới hoạt động công nghiệp; EU tăng cường kiểm soát nhập khẩu thép và từng bước triển khai cơ chế điều chỉnh carbon biên giới (CBAM); cạnh tranh mạnh từ thép giá rẻ châu Á. Giá sắt thép xuất khẩu trung bình của Việt Nam sang thị trường EU 4 tháng đầu năm 2026 đạt 636 USD/tấn, giảm 6,95% so với cùng kỳ năm 2025.
Hoa Kỳ là thị trường xuất khẩu thép lớn ba của Việt Nam sau ASEAN và EU trong 4 tháng đầu năm 2026, đạt 516,63 nghìn tấn, trị giá 300,59 triệu USD, tăng 33,19% về lượng và 24,18% về trị giá so với cùng kỳ năm 2025. Động lực tăng trưởng chủ yếu đến từ hoạt động đầu tư hạ tầng và xây dựng tại Hoa Kỳ duy trì tích cực; các nhà nhập khẩu Hoa Kỳ gia tăng đa dạng hóa nguồn cung ngoài thị trườngTrung Quốc; nguồn thép Việt Nam có lợi thế cạnh tranh về giá. Ngoài ra, rủi ro điều tra chống bán phá giá, chống trợ cấp và các biện pháp bảo hộ thương mại của Hoa Kỳ vẫn là yếu tố cần đặc biệt lưu ý.
Đáng chú ý, xuất khẩu thép của Việt Nam trong 4 tháng đầu năm 2026 sang một số thị trường mới nổi tăng mạnh cả về lượng và trị giá so với cùng kỳ năm 2025, nổi bật là Brazil và Thổ Nhĩ Kỳ với mức tăng lần lượt 43,03% và 189,3% về lượng, cùng với trị giá xuất khẩu tăng 55,22% và 232,7%.
Một số thị trường truyền thống và khu vực phát triển như Đài Loan, Hàn Quốc, Australia, Anh ghi nhận mức giảm đáng kể cả về lượng và trị giá so với cùng kỳ năm 2025. Nguyên nhân chủ yếu là do nhu cầu thép yếu, cạnh tranh gia tăng và các yêu cầu kỹ thuật ngày càng khắt khe, ảnh hưởng đến khả năng duy trì thị phần của thép Việt Nam.
Các thị trường như Trung Quốc, Nga, UAE hay một số thị trường nhỏ khác ghi nhận biến động mạnh về tăng trưởng, song quy mô còn hạn chế. Tuy nhiên, các thị trường này chủ yếu mang tính bổ sung, chưa đóng vai trò chiến lược trong cơ cấu xuất khẩu.
Một số thị trường xuất khẩu thép của Việt Nam trong 4 tháng đầu năm 2026

Nguồn: Tính toán từ số liệu của Cục Hải quan

 

Nguồn: Vinanet/VITIC