Chiều 30/10 Quốc hội thảo luận tại hội trường về tình hình thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội năm 2026, dự kiến kế hoạch năm 2027.
Trước đó, nội dung này đã được thảo luận tại tổ vào ngày 18/10 với nhiều ý kiến đánh giá cao những kết quả phát triển kinh tế - xã hội năm 2026, nhiều kết quả chưa có tiền lệ, rất đáng trân trọng, nhất là trong bối cảnh khó khăn từ bên ngoài và bộ máy nhiệm kỳ mới đến tháng 4 mới kiện toàn. Qua đó, tạo nền tảng quan trọng về định hướng chiến lược, thể chế, phương thức quản trị để năm 2027 tăng tốc, đột phá.
Các đại biểu Quốc hội cũng đã thẳng thắn chỉ ra những khó khăn, thách thức, trong đó có vốn đầu tư toàn xã hội còn thấp, 9 tháng mới đạt khoảng 60% nhu cầu năm 2026, thúc đẩy đầu tư tư nhân chưa đạt kỳ vọng; hiệu quả đầu tư công chưa cải thiện rõ.
Các kênh dẫn vốn cho đầu tư được mở rộng
Tại báo cáo giải trình ý kiến đại biểu thảo luận tổ (hoàn thành ngày 29/10), Bộ Tài chính nêu rõ, 2026 là năm đầu tiên thực hiện Kế hoạch phát triển kinh tể - xã hội giai đoạn 2026 - 2030 với mục tiêu tăng trưởng "2 con số", nhu cầu vốn đầu tư của nền kinh tế rất lớn. Trong đó, Chính phủ đã xác định nhu cầu vốn đầu tư toàn xã hội năm 2026 khoảng 5,1 triệu tỷ đồng (khoảng 35,5% GDP), tăng 23,1% so với năm 2025. Trong 9 tháng năm 2026, vốn đầu tư toàn xã hội thực hiện đạt khoảng 3,11 triệu tỷ đồng, tăng 15,1% so với cùng kỳ năm trước, bằng khoảng 61% kịch bản cả năm, cả 3 khu vực đều tăng trưởng hai con số.
Trong đó đầu tư công tiếp tục phát huy vai trò dẫn dắt. Kế hoạch đầu tư công vốn ngân sách nhà nước năm 2026 được Thủ tướng Chính phủ giao là 1,02 triệu tỷ đồng, đến hết tháng 9, giải ngân đạt gần 643 nghìn tỷ đồng, bằng 62,9% kế hoạch, cao hơn cùng kỳ năm trước gần 203 nghìn tỷ đồng và 12,9 điểm phần trăm về tỷ lệ. Đây là tỷ lệ giải ngân 9 tháng cao nhất kể từ năm 2021, báo cáo nêu rõ.
Cập nhật đến ngày 15/10/2026, Bộ Tài chính cho biết tỷ lệ giải ngân đạt 64,6% kế hoạch, trong đó có 6 bộ, cơ quan và 19 địa phương có tỷ lệ giải ngân cao hơn bình quân cả nước, vốn đầu tư khu vực kinh tế nhà nước 9 tháng đạt 931 nghìn tỷ đồng, tăng 17,3%, là mức tăng cao nhất trong 3 khu vực, bằng khoảng 66% kịch bản năm.
Theo báo cáo, các kênh dẫn vốn cho đầu tư được mở rộng. Đến ngày 14/10/2026, dư nợ tín dụng đối với nền kinh tế đạt 20,72 triệu tỷ đồng, tăng 11,44% so với cuối năm 2025 và tăng 16,73% so với cùng kỳ. Ngân hàng Nhà nước Việt Nam đã loại trừ, cấp bổ sung hạn mức tăng trưởng tín dụng cho các ngân hàng thương mại cấp tín dụng đối với doanh nghiệp đầu tư các dự án quy mô lớn, trọng điểm, có tính lan tỏa.
Bên cạnh những kết quả tích cực, báo cáo cũng nêu một số khó khăn, thách thức. Như, yêu cầu huy động và thực hiện vốn đầu tư tư nhân trong quý IV rất lớn. Để đạt kịch bản cả năm, quý IV cần huy động thêm khoảng 2 triệu tỷ đồng vốn đầu tư toàn xã hội. Trong đó, đầu tư khu vực tư nhân chưa đạt kỳ vọng, trong khi yêu cầu trong quý IV đối với khu vực này rất cao, cần huy động khoảng 1,3 triệu tỷ đồng, gấp khoảng 1,6 lần cùng kỳ năm 2025.
Đầu tư tư nhân trong 9 tháng tăng 14% vẫn thấp nhất trong 3 khu vực, bằng khoảng 56% mục tiêu cả năm; tỷ trọng trong tổng vốn tiếp tục giảm, từ 59,5% năm 2021 xuống 53% trong 9 tháng năm 2026.
Nguyên nhân chủ yếu do vướng mắc về thủ tục, quy hoạch, đất đai, mặt bằng sản xuất, chủ yếu ở khâu thực thi tại các địa phương theo phân cấp, phân quyền; chi phí vốn tăng (đến ngày 10/10/2026, lãi suất cho vay bình quân của giao dịch phát sinh mới ở mức 9,07%/năm, tăng 0,98%/nãm so với cuối năm 2025), trong khi doanh nghiệp vẫn phụ thuộc chủ yếu vào tín dụng ngân hàng, kênh huy động vốn trung, dài hạn qua thị trường vốn còn hạn chế; nhiều dự án tồn đọng chưa được tháo gỡ dứt điểm để đưa vào khai thác.
Bên cạnh đó, giải ngân vốn đầu tư công tuy tích cực nhưng chưa đồng đều, mức độ lan tỏa của khu vục FDI chưa cao. Sự liên kết giữa khu vực FDI và doanh nghiệp trong nước còn hạn chế; doanh nghiệp trong nước chưa tham gia sâu vào chuỗi cung ứng của khu vực FDI; tỷ lệ nội địa hóa trong chuỗi sản xuất của doanh nghiệp FDI mới đạt khoảng 20 - 25%; việc chuyển giao công nghệ còn hạn chế. Mức độ chuyển hóa vốn thành khối lượng thực hiện và năng lực sản xuất mới cần được đánh giá thận trọng hơn.
Tập trung tháo gỡ vướng mắc về quy hoạch, đất đai, giải phóng mặt bằng
Để huy động tối đa nguồn lực cho mục tiêu tăng trưởng “2 con số”, trong những tháng cuối năm 2026 và năm 2027, theo báo cáo, Chính phủ đã chỉ đạo các bộ, ngành, tập trung triển khai theo chức năng, nhiệm vụ các giải pháp trọng tâm.
Cụ thể là tiếp tục thúc đẩy giải ngân vốn đầu tư công, phấn đấu đạt 100% kế hoạch Thủ tướng Chính phủ giao, trong đó trong quý IV, tập trung thu hồi kế hoạch trung hạn của dự án không hoàn thành thủ tục đầu tư sau ngày 31/10/2026, trừ dự án quan trọng quốc gia, để giao cho dự án đủ điều kiện, có khả năng giải ngân. Công khai kết quả giải ngân hằng tuần; chấm điểm giải ngân chính thức từ kỳ báo cáo tháng 10/2026. Điều chỉnh giảm kế hoạch năm 2026 của bộ, địa phương không còn khả năng giải ngân để điều chuyển cho nơi có nhu cầu.
Cùng với đó là quyết liệt tháo gỡ vướng mắc về giải phóng mặt bằng, vật liệu cho các dự án trọng điểm, đôn đốc thu hồi tạm ứng, đồng thời, tổ chức thi hành hiệu quả Luật Ngân sách nhà nước hợp nhất với Luật Đầu tư công sau khi được Quốc hội thông qua, cắt giảm tối đa trình tự, thủ tục, quy định rõ trách nhiệm trong từng khâu, từng công đoạn.
Đối với khu vực ngoài Nhà nước, giải pháp được đề cập là tiếp tục cắt giảm thủ tục hành chính, điều kiện kinh doanh; tháo gỡ vướng mắc về quy hoạch, đất đai, giải phóng mặt bằng, nhân công, vật liệu cho các dự án lớn, trọng điểm, tạo điều kiện chuyển vốn đăng ký thành vốn đầu tư thực tế; nâng cao năng lực thực thi của các địa phương theo phân cấp, phân quyền.
Giải pháp được nêu tại báo cáo còn có điều hành đồng bộ chính sách tài khóa và chính sách tiền tệ, ổn định mặt bằng lãi suất, giảm chi phí vốn, hướng tín dụng vào sản xuất kinh doanh, lĩnh vực ưu tiên và các động lực tăng trưởng. Phát triển thị trường vốn trung, dài hạn: hoàn thiện khung pháp lý về chứng khoán, tạo thuận lợi cho doanh nghiệp IPO, tiếp tục tháo gỡ dứt điểm các dự án tồn đọng để sớm đưa vào vận hành, khai thác...
Nâng cao chất lượng, hiệu quả đầu tư, chuyển trọng tâm đánh giá từ tỷ lệ giải ngân sang khối lượng hoàn thành, công trình đưa vào khai thác và năng lực sản xuất mới tăng thêm; chỉ đạo Bộ Tài chính phối hợp với các Bộ, cơ quan, địa phương tăng cường theo dõi, đánh giá hiệu quả đầu tư theo từng khu vực, ngành, lĩnh vực để kịp thời tham mưu Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ trong chỉ đạo, điều hành, báo cáo nêu rõ.