Đối tượng áp dụng
Đối tượng áp dụng là cán bộ, công chức theo Luật Cán bộ, công chức và viên chức theo Luật Viên chức công tác tại Văn phòng Chủ tịch nước; Cơ quan của Quốc hội, Văn phòng Quốc hội; Tòa án nhân dân tối cao, Viện Kiểm sát nhân dân tối cao, Kiểm toán Nhà nước; Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ; Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, cấp xã và các đơn vị sự nghiệp công lập thuộc các cơ quan, tổ chức, đơn vị nêu trên.
Nghị định này không áp dụng đối với cơ quan, tổ chức, người làm việc trong Quân đội nhân dân, Công an nhân dân và tổ chức cơ yếu.
Hồ sơ điện tử gắn mã định danh
Theo Điều 16, hồ sơ điện tử cán bộ, công chức, viên chức bao gồm Sơ yếu lý lịch điện tử và các thành phần hồ sơ khác được tạo lập từ dữ liệu quản lý cán bộ, công chức, viên chức. Mỗi cá nhân có một hồ sơ điện tử duy nhất, được gắn mã định danh hồ sơ điện tử để phục vụ quản lý, tra cứu.
Nghị định thống nhất sử dụng số định danh cá nhân làm mã định danh hồ sơ điện tử cán bộ, công chức, viên chức. Thời hạn lưu trữ hồ sơ điện tử thực hiện theo quy định của pháp luật về văn thư, lưu trữ; pháp luật về cán bộ, công chức, viên chức và pháp luật về dữ liệu, bảo đảm tính toàn vẹn, tính sẵn sàng và khả năng truy cập dữ liệu.
Sơ yếu lý lịch điện tử
Theo Điều 17, Sơ yếu lý lịch điện tử được tạo lập đồng thời với hồ sơ điện tử và gắn với một hồ sơ duy nhất. Mã số Sơ yếu lý lịch điện tử sử dụng thống nhất với mã định danh hồ sơ điện tử.
Cấu trúc Sơ yếu lý lịch điện tử được xây dựng phù hợp với quy định pháp luật về quản lý hồ sơ cán bộ, công chức, viên chức; dữ liệu được hình thành từ Cơ sở dữ liệu về cán bộ, công chức, viên chức.
Trách nhiệm cập nhật hồ sơ điện tử
Khoản 2 Điều 19 quy định, cán bộ, công chức, viên chức có trách nhiệm thường xuyên cập nhật thông tin cá nhân khi có thay đổi và chịu trách nhiệm trước pháp luật về tính trung thực, chính xác của thông tin đã cập nhật.
Cơ quan sử dụng cán bộ, công chức, viên chức có trách nhiệm thường xuyên cập nhật các thông tin, dữ liệu của cán bộ, công chức, viên chức phát sinh từ nghiệp vụ quản lý cán bộ, công chức, viên chức vào hồ sơ điện tử và đồng bộ vào Cơ sở dữ liệu quốc gia về cán bộ, công chức, viên chức trong thời hạn không quá 03 ngày làm việc kể từ khi có thông tin phát sinh.
Đối với các dữ liệu liên quan tới cán bộ, công chức, viên chức sinh ra từ hệ thống thông tin quản lý cán bộ, công chức, viên chức, dữ liệu phải được hệ thống cập nhật vào hồ sơ điện tử và đồng bộ vào Cơ sở dữ liệu quốc gia về cán bộ, công chức, viên chức chậm nhất 01 ngày sau khi quy trình xử lý nghiệp vụ được hoàn thành.
Hồ sơ điện tử thay thế hồ sơ giấy
Theo Điều 20, thành phần hồ sơ điện tử trong Cơ sở dữ liệu quốc gia được sử dụng thay thế hồ sơ giấy trong công tác quản lý cán bộ, công chức, viên chức. Trường hợp cần thiết phải dùng hồ sơ giấy, cơ quan quản lý được khai thác hồ sơ điện tử và chuyển đổi sang bản giấy theo quy định pháp luật về giao dịch điện tử; cán bộ, công chức, viên chức không phải nộp lại hồ sơ đã có.
Cơ quan quản lý, sử dụng cán bộ, công chức, viên chức không được yêu cầu cung cấp lại thông tin đã có trong Cơ sở dữ liệu quốc gia, trừ trường hợp cần thiết để bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp của cá nhân, cơ quan, tổ chức.
Bảo đảm quyền riêng tư và bảo mật dữ liệu
Việc truy cập, khai thác hồ sơ điện tử chỉ được thực hiện khi có sự đồng ý của cán bộ, công chức, viên chức bằng thông điệp điện tử; cá nhân có quyền rút lại sự đồng ý. Trường hợp phục vụ công tác cán bộ, cơ quan quản lý được truy cập trong phạm vi thẩm quyền và có trách nhiệm bảo mật thông tin, bảo vệ dữ liệu cá nhân.
Đối với dữ liệu, hồ sơ điện tử thuộc danh mục bí mật nhà nước (Điều 22), các cơ quan chủ quản có trách nhiệm triển khai biện pháp bảo đảm an toàn, bảo mật trong quá trình quản lý, lưu trữ, truyền đưa và sử dụng; việc sao lưu, trích xuất thực hiện theo quy định của pháp luật về bảo vệ bí mật nhà nước và pháp luật về cơ yếu.
Nghị định số 27/2026/NĐ-CP có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2026.
Xem chi tiết nội dung Nghị định
tại đây.