Giá lúa tươi duy trì ổn định
Theo cập nhật từ Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh An Giang, giá lúa tươi ngày 7/9 không ghi nhận biến động đáng kể so với cuối tuần.
Lúa tươi OM 18 và Đài Thơm 8 cùng dao động ở mức 6.500 - 6.700 đồng/kg, thuộc nhóm có giá cao nhất. Lúa OM 5451 duy trì ở mức 6.400 - 6.500 đồng/kg; IR 50404 ở mức 6.200 - 6.400 đồng/kg; OM 34 dao động 5.800 - 5.900 đồng/kg.
Việc giá lúa tươi tạm dừng đà giảm cho thấy áp lực bán đã giảm bớt. Tuy nhiên, sức mua trên thị trường vẫn chưa đủ mạnh để tạo động lực cho giá phục hồi. Thương lái chủ yếu mua theo nhu cầu thực tế, trong khi người bán có xu hướng hạn chế giảm giá thêm.
Trong ngắn hạn, diễn biến sức mua tại các nhà máy và doanh nghiệp thu mua sẽ là yếu tố quyết định khả năng cải thiện của giá lúa. Nếu lượng mua tăng trong những ngày đầu tuần, nhóm lúa thơm như OM 18 và Đài Thơm 8 có thể phản ứng tích cực trước.
Gạo nguyên liệu tiếp tục giữ giá
Trên thị trường gạo nguyên liệu, mặt bằng giá tương đối ổn định. Gạo nguyên liệu OM 5451 hiện ở mức 9.300 - 9.400 đồng/kg; Đài Thơm 8 ở mức 9.200 - 9.400 đồng/kg.
Gạo nguyên liệu IR 504 và CL 555 cùng dao động 8.700 - 8.800 đồng/kg; OM 18 ở mức 8.700 - 8.850 đồng/kg. OM 380 và Sóc thơm cùng giữ mức 7.500 - 7.600 đồng/kg.
So với diễn biến của lúa tươi, giá gạo nguyên liệu đang ổn định hơn. Việc IR 504 và CL 555 chưa thể trở lại mốc 9.000 đồng/kg cho thấy thị trường vẫn thiếu lực mua đủ mạnh. Tuy nhiên, giá cũng chưa chịu thêm áp lực giảm đáng kể, cho thấy khả năng đang hình thành vùng cân bằng mới.
Giá gạo bán lẻ và phụ phẩm ít biến động
Tại thị trường bán lẻ, giá gạo nhìn chung ổn định so với cuối tuần. Gạo Nàng Nhen tiếp tục có mức giá cao nhất, khoảng 28.000 đồng/kg; Hương Lài và gạo Nhật cùng ở mức 22.000 đồng/kg; Nàng Hoa khoảng 21.000 đồng/kg.
Gạo thơm Thái hạt dài dao động 20.000 - 22.000 đồng/kg; Jasmine ở mức 17.000 - 18.000 đồng/kg; gạo Đài Thơm và OM 18 cùng dao động 15.500 - 16.500 đồng/kg. Gạo trắng thông dụng giữ mức 16.000 đồng/kg, gạo thường ở mức 13.500 - 15.000 đồng/kg và Sóc thường khoảng 15.000 - 16.000 đồng/kg. Gạo Sóc Thái có giá khoảng 20.000 đồng/kg.
Ở nhóm phụ phẩm, tấm thơm dao động 8.650 - 8.750 đồng/kg, trong khi cám ở mức 7.450 - 7.550 đồng/kg.
Phân khúc nếp cũng không ghi nhận biến động mới. Nếp 3 tháng khô duy trì 9.600 - 9.700 đồng/kg, còn nếp IR 4625 tươi ở mức 7.300 - 7.500 đồng/kg.
Giá gạo xuất khẩu đi ngang
Trên thị trường xuất khẩu, giá gạo Việt Nam tiếp tục ổn định. Theo Hiệp hội Lương thực Việt Nam, gạo thơm 5% tấm của Việt Nam được chào bán ở mức 470 - 480 USD/tấn; gạo thơm 100% tấm ở mức 373 - 377 USD/tấn; gạo Jasmine ở mức 534 - 538 USD/tấn.
Trên thị trường Thái Lan, gạo 5% tấm dao động 453 - 457 USD/tấn, trong khi gạo 100% tấm ở mức 366 - 370 USD/tấn.
Tại Ấn Độ, gạo 5% tấm được chào bán ở mức 364 - 368 USD/tấn, còn gạo 100% tấm dao động 304 - 308 USD/tấn. Mức giá cạnh tranh của gạo Ấn Độ tiếp tục tạo sức ép đối với phân khúc gạo phổ thông, hạn chế khả năng tăng giá mạnh của gạo Việt Nam.
Trong khi đó, lợi thế của Việt Nam vẫn nằm ở các dòng gạo thơm, chất lượng cao và những thị trường có nhu cầu nhập khẩu ổn định.
Xuất khẩu gạo 8 tháng đạt khoảng 6 triệu tấn
Theo thông tin từ Bộ Nông nghiệp và Môi trường và Bộ Công Thương, xuất khẩu gạo trong tháng 8/2026 đạt khoảng 459,5 nghìn tấn, với trị giá 240,6 triệu USD.
Lũy kế 8 tháng đầu năm 2026, Việt Nam xuất khẩu khoảng 6 triệu tấn gạo, trị giá 2,86 tỷ USD, giảm 6,3% về khối lượng và 11,9% về giá trị so với cùng kỳ năm 2025.
Châu Á tiếp tục là khu vực tiêu thụ chủ lực của gạo Việt Nam. Philippines là thị trường lớn nhất, chiếm 43,2% thị phần; tiếp theo là Trung Quốc với 18,4% và Ghana với 11%.
Nhu cầu từ Philippines được kỳ vọng tiếp tục là một trong những yếu tố hỗ trợ thị trường trong những tháng cuối năm. Nếu các doanh nghiệp ký thêm hợp đồng xuất khẩu, nhu cầu thu mua gạo nguyên liệu có thể được cải thiện, qua đó tạo tác động tích cực trở lại thị trường lúa tại vùng sản xuất.
Tuy nhiên, để hình thành xu hướng tăng mới, thị trường vẫn cần sự cải thiện thực tế của lượng giao dịch thay vì chỉ dựa vào kỳ vọng về đơn hàng.
Nhìn chung, giá lúa gạo ngày 7/9 đang trong trạng thái ổn định sau nhịp điều chỉnh trước đó. Lúa tươi đã tạm chững giảm, trong khi gạo nguyên liệu giữ giá và thị trường xuất khẩu chưa tạo thêm động lực mới.
Trong những phiên tới, sức mua của doanh nghiệp và nhà máy sẽ là yếu tố đáng chú ý. Nếu hoạt động thu mua tăng trở lại, gạo nguyên liệu có thể phục hồi trước, sau đó tác động đến giá lúa tại vùng sản xuất. Ngược lại, nếu giao dịch tiếp tục trầm lắng, mặt bằng giá hiện tại nhiều khả năng sẽ được duy trì.
Bảng giá lúa, gạo ngày 7/9
|
Mặt hàng
|
Giá ngày 7/9
|
|
Lúa tươi
|
|
|
OM 34
|
5.800 - 5.900 đồng/kg
|
|
OM 18
|
6.500 - 6.700 đồng/kg
|
|
Đài Thơm 8
|
6.500 - 6.700 đồng/kg
|
|
OM 5451
|
6.400 - 6.500 đồng/kg
|
|
IR 50404
|
6.200 - 6.400 đồng/kg
|
|
Gạo nguyên liệu
|
|
|
IR 504
|
8.700 - 8.800 đồng/kg
|
|
CL 555
|
8.700 - 8.800 đồng/kg
|
|
OM 5451
|
9.300 - 9.400 đồng/kg
|
|
OM 18
|
8.700 - 8.850 đồng/kg
|
|
Đài Thơm 8
|
9.200 - 9.400 đồng/kg
|
|
OM 380
|
7.500 - 7.600 đồng/kg
|
|
Sóc thơm
|
7.500 - 7.600 đồng/kg
|
|
Phụ phẩm
|
|
|
Tấm thơm
|
8.650 - 8.750 đồng/kg
|
|
Cám
|
7.450 - 7.550 đồng/kg
|
|
Nếp
|
|
|
Nếp 3 tháng khô
|
9.600 - 9.700 đồng/kg
|
|
Nếp IR 4625 tươi
|
7.300 - 7.500 đồng/kg
|
|
Gạo bán lẻ
|
|
|
Nàng Nhen
|
28.000 đồng/kg
|
|
Hương Lài
|
22.000 đồng/kg
|
|
Gạo Nhật
|
22.000 đồng/kg
|
|
Nàng Hoa
|
21.000 đồng/kg
|
|
Thơm Thái hạt dài
|
20.000 - 22.000 đồng/kg
|
|
Sóc Thái
|
20.000 đồng/kg
|
|
Jasmine
|
17.000 - 18.000 đồng/kg
|
|
Đài Thơm
|
15.500 - 16.500 đồng/kg
|
|
OM 18
|
15.500 - 16.500 đồng/kg
|
|
Gạo trắng thông dụng
|
16.000 đồng/kg
|
|
Gạo thường
|
13.500 - 15.000 đồng/kg
|
|
Sóc thường
|
15.000 - 16.000 đồng/kg
|
|
Gạo xuất khẩu
|
|
|
Gạo thơm 5% tấm Việt Nam
|
470 - 480 USD/tấn
|
|
Gạo thơm 100% tấm Việt Nam
|
373 - 377 USD/tấn
|
|
Jasmine Việt Nam
|
534 - 538 USD/tấn
|
|
Gạo 5% tấm Thái Lan
|
453 - 457 USD/tấn
|
|
Gạo 100% tấm Thái Lan
|
366 - 370 USD/tấn
|
|
Gạo 5% tấm Ấn Độ
|
364 - 368 USD/tấn
|
|
Gạo 100% tấm Ấn Độ
|
304 - 308 USD/tấn
|