Nguồn cung thép nhập khẩu vẫn tập trung chủ yếu tại khu vực châu Á. Riêng 6 thị trường gồm Trung Quốc, Nhật Bản, ASEAN, Ấn Độ, Hàn Quốc và Đài Loan chiếm 99,13% tổng lượng thép nhập khẩu của Việt Nam trong 5 tháng đầu năm 2026, cho thấy mức độ tập trung nguồn cung vẫn ở mức cao.
Trung Quốc tiếp tục là thị trường nhập khẩu sắt thép lớn nhất của Việt Nam trong 5 tháng đầu năm 2026, tuy nhiên, tỷ trọng nhập khẩu sắt thép của Việt Nam từ thị trường Trung Quốc thu hẹp từ 57,17% của 5 tháng đầu năm 2025 xuống còn 46,66% trong 5 tháng đầu năm 2026. Nhập khẩu sắt thép của Việt Nam từ thị trường Trung Quốc trong 5 tháng đầu năm 2026 đạt 2,96 triệu tấn, trị giá 2,01 tỷ USD, giảm 19,07% về lượng và giảm 12,88% về trị giá so với cùng kỳ năm 2025. Giá sắt thép nhập khẩu trung bình từ Trung Quốc trong 5 tháng đầu năm 2026 đạt 680 USD/tấn, tăng 7,65% so với cùng kỳ năm 2025.
Nhập khẩu sắt thép của Việt Nam từ Nhật Bản 5 tháng đầu năm 2026 đạt 789,39 nghìn tấn, trị giá 537,02 triệu USD, giảm 23,48% về lượng và giảm 17,88% về trị giá so cùng kỳ năm 2025, do giá thép thép nhập khẩu từ Nhật Bản tăng 7,32% so với cùng kỳ năm 2025 và áp lực cạnh tranh từ các nguồn cung khác. Dù quy mô nhập khẩu thép từ Nhật Bản giảm nhưng Nhật Bản vẫn là thị trường nhập khẩu thép lớn thứ hai của Việt Nam.
Nhập khẩu sắt thép của Việt Nam từ khu vực ASEAN trong 5 tháng đầu năm 2026 đạt 755,43 nghìn tấn, trị giá 837,7 triệu USD, tăng 14,87% về lượng và 12,75% về trị giá so với cùng kỳ năm 2025. Giá sắt thép nhập khẩu trung bình từ ASEAN trong 5 tháng đầu năm 2026 đạt 1.109 USD/tấn, giảm 1,85% so với cùng kỳ năm 2025, đã góp phần nâng cao sức cạnh tranh của nguồn cung này. Cơ cấu nhập khẩu sắt thép tập trung chủ yếu vào thị trường Indonesia, chiếm tỷ trọng áp đảo (86,91%) trong khu vực ASEAN, với 656,56 nghìn tấn, trị giá 755,13 triệu USD, tăng 5,06% về lượng và tăng 7,16% về trị giá so cùng kỳ năm 2025. Bên cạnh đó, nhập khẩu sắt thép của Việt Nam trong 5 tháng đầu năm 2026 từ các thị trường Malaysia và Thái Lan cũng tăng mạnh so với cùng kỳ năm 2025. ASEAN đang dần trở thành nguồn cung thép quan trọng của Việt Nam, thay thế một phần thép nhập khẩu từ thị trường Trung Quốc, nhờ lợi thế về khoảng cách địa lý, ưu đãi thuế quan trong khuôn khổ ATIGA và mức giá cạnh tranh hơn.
Đáng chú ý, Ấn Độ nổi lên là nguồn cung thép mới với giá cạnh tranh, góp phần đa dạng hóa thị trường nhập khẩu và tạo áp lực cạnh tranh đối với các nguồn cung thép truyền thống. Nhập khẩu sắt thép của Việt Nam từ Ấn Độ 5 tháng đầu năm 2026 đạt 707,94 nghìn tấn, trị giá 364,48 triệu USD, tăng 11.555,27% về lượng và tăng 1.921,74% về trị giá so cùng kỳ năm 2025. Giá sắt thép nhập khẩu bình quân từ Ấn Độ 5 tháng đầu năm 2026 đạt 515 USD/tấn, mức giá thấp nhất trong số các nguồn cung lớn của Việt Nam, giảm 82,65% so với cùng kỳ năm 2025.
Nhập khẩu sắt thép của Việt Nam từ Hàn Quốc 5 tháng đầu năm 2026 đạt 645,22 nghìn tấn, trị giá 487,63 triệu USD, tăng 4,38% về lượng nhưng giảm 2,64% về trị giá so với cùng kỳ năm 2025, nhờ lợi thế về chất lượng và giá cả cạnh tranh. Giá sắt thép nhập khẩu bình quân từ Hàn Quốc 5 tháng đầu năm 2026 đạt 756 USD/tấn, giảm 6,73% so với cùng kỳ năm 2025.
Nhập khẩu sắt thép của Việt Nam từ Đài Loan 5 tháng đầu năm 2026 đạt 429,2 nghìn tấn, trị giá 270,42 triệu USD, tăng 19,59% về lượng và 10,67% về trị giá so với cùng kỳ năm 2025.
Nhập khẩu sắt thép của Việt Nam từ thị trường EU 5 tháng đầu năm 2026 đạt 29,72 nghìn tấn, trị giá 42,62 triệu USD, tăng 197,65% về lượng và tăng 38,74% về trị giá so cùng kỳ năm 2025, nhưng quy mô còn nhỏ nên chưa tác động đáng kể đến tổng thể thị trường. Một số thị trường như Bỉ, Hà Lan, Đan Mạch, Pháp, Thuỵ Điển có mức tăng đột biến do đơn hàng đặc thù, chủ yếu là các dòng thép hợp kim đặc chủng, thép kỹ thuật cao và thép phục vụ ngành cơ khí chính xác, năng lượng và chế tạo công nghệ cao.
Một số thị trường như Australia, Hoa Kỳ, Nam Phi, Brazil và Canada có biến động đáng kể so với cùng kỳ năm 2025, song quy mô còn nhỏ và mang tính bổ sung, chưa hình thành vai trò ổn định trong cơ cấu nhập khẩu thép của Việt Nam.
Một số thị trường nhập khẩu thép vào Việt Nam trong 5 tháng đầu năm 2026
(VITIC tính toán từ số liệu của Cục Hải quan)
|
|