Cùng dự Hội nghị có các đồng chí: Lê Minh Hưng,Ủy viên Bộ Chính trị, Thủ tướng Chính phủ; Trần Thanh Mẫn, Ủy viên Bộ Chính trị, Chủ tịch Quốc hội; Nguyễn Sinh Hùng, nguyên Ủy viên Bộ Chính trị, nguyên Chủ tịch Quốc hội; Trần Cẩm Tú, Ủy viên Bộ Chính trị, Thường trực Ban Bí thư Trung ương Đảng.
Tham dự Hội nghị tại điểm cầu Trung ương và điểm cầu tại các tỉnh ủy, thành ủy, đảng ủy trực thuộc Trung ương, có các đồng chí Ủy viên Bộ Chính trị; Ủy viên Ban Bí thư; Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng; các đồng chí Ủy viên Quân ủy Trung ương; Đảng ủy Công an Trung ương; Đảng ủy các cơ quan Đảng Trung ương; Đảng ủy Chính phủ; Đảng ủy Quốc hội; Đảng ủy Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể Trung ương; các đồng chí lãnh đạo các ban, bộ, ngành, đoàn thể Trung ương; các đồng chí lãnh đạo Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam; lãnh đạo Hiệp hội Doanh nghiệp nước ngoài tại Việt Nam; đại diện lãnh đạo một số tập đoàn, doanh nghiệp FDI và tập đoàn, doanh nghiệp của nhà nước, tư nhân; các đồng chí Bí thư, Phó Bí thư; ủy viên Ban Thường vụ, ủy viên Ban Chấp hành đảng bộ các tỉnh ủy, thành ủy; lãnh đạo các ban, sở, ngành, tổ chức chính trị - xã hội cấp tỉnh; các đồng chí ủy viên ban chấp hành đảng bộ cấp xã; ủy viên ủy ban kiểm tra đảng ủy cấp xã; lãnh đạo các phòng, ban, Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị - xã hội, đơn vị sự nghiệp cấp xã.
Hội nghị còn được kết nối với gần 35.000 điểm cầu ở Trung ương, cấp tỉnh, cấp xã, cơ quan, đơn vị, quân khu, quân chủng, quân đoàn trên toàn quốc với gần 2,1 triệu đại biểu tham dự Hội nghị tại các điểm cầu.
Tại điểm cầu Ngân hàng Nhà nước Việt Nam có các đồng chí ban lãnh đạo NHNN, Đảng uỷ NHNN, các đồng chí Ủy viên Ban Chấp hành Đảng bộ NHNN; Ủy viên Uỷ ban kiểm tra và lãnh đạo các cơ quan tham mưu, giúp việc của Đảng ủy NHNN, toàn thể đảng viên các chi bộ trực thuộc Đảng uỷ NHNN.
Mở ra tư duy mới về phát triển kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài
Tại Hội nghị, đồng chí Phạm Gia Túc, Ủy viên Bộ Chính trị, Phó Thủ tướng Thường trực Chính phủ truyền đạt nội dung cơ bản Nghị quyết số 10-NQ/TW ngày 8/6/2026 của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài.
Theo đó, Nghị quyết số 10-NQ/TW đã xác định 6 quan điểm chỉ đạo trong phát triển kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài, gồm: Kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài là một bộ phận quan trọng của nền kinh tế quốc gia, là kênh tiếp nhận vốn, công nghệ tiên tiến, phương thức quản trị hiện đại, đào tạo nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, góp phần mở rộng thị trường; được Nhà nước khuyến khích phát triển lâu dài, đối xử bình đẳng, cạnh tranh lành mạnh với các khu vực kinh tế khác. Phát triển kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài gắn với yêu cầu nâng cao hiệu quả, năng lực tự chủ chiến lược, sức cạnh tranh của nền kinh tế, mở rộng mạng lưới thị trường, tham gia sâu vào các chuỗi cung ứng toàn cầu.

Phó Thủ tướng Thường trực Chính phủ Phạm Gia Túc đã trình bày những nội dung trọng tâm, cốt lõi của Nghị quyết số 10-NQ/TW của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài - Ảnh: VGP/Nhật Bắc

Bên cạnh đó, chuyển mạnh từ tư duy chủ yếu thu hút vốn sang tư duy phát triển nền tảng đầu tư chiến lược quốc gia; lấy chất lượng, hiệu quả, chuyển giao công nghệ, tham gia chuỗi cung ứng, giá trị gia tăng,… làm tiêu chí chủ yếu. Phát triển đồng bộ, thống nhất hệ sinh thái đầu tư nước ngoài, gắn với chiến lược phát triển doanh nghiệp trong nước, phát triển thị trường vốn, trung tâm tài chính quốc tế, khu thương mại tự do...
Đồng thời, nhà nước công nhận và bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ, quyền sở hữu về tài sản, vốn đầu tư, thu nhập và các quyền, lợi ích hợp pháp khác của nhà đầu tư nước ngoài. Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, kiến tạo của Nhà nước; nâng cao hiệu lực, hiệu quả điều phối quốc gia; lấy kết quả đóng góp thực chất làm thước đo chủ yếu trong thu hút, quản lý và sử dụng đầu tư nước ngoài.
Từ 06 quan điểm chỉ đạo nêu trên, đồng chí Phạm Gia Túc chỉ ra đã có 06 chuyển đổi lớn về tư duy phát triển. Thứ nhất, chuyển từ tư duy thu hút đầu tư nước ngoài sang phát triển kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài. Nghị quyết tiếp cận toàn diện hơn, bao quát cả đầu tư trực tiếp, đầu tư gián tiếp, thị trường vốn và các thiết chế tài chính quốc tế; coi kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài là một bộ phận hữu cơ của nền kinh tế, phát triển hài hòa với khu vực kinh tế trong nước để phục vụ mục tiêu phát triển quốc gia.
Bên cạnh đó, chuyển từ coi trọng quy mô vốn sang coi trọng chất lượng, hiệu quả và giá trị gia tăng. Trọng tâm không còn là thu hút nhiều dự án hơn, mà là lựa chọn các dự án có công nghệ tiên tiến, đổi mới sáng tạo, quản trị hiện đại, có khả năng lan tỏa và đóng góp thiết thực vào nâng cao năng suất, năng lực cạnh tranh của nền kinh tế.
Chuyển từ ưu đãi theo đầu vào sang ưu đãi theo kết quả. Chính sách ưu đãi được đổi mới theo hướng gắn với việc thực hiện các cam kết về chuyển giao công nghệ, nghiên cứu và phát triển, đào tạo nhân lực, liên kết với doanh nghiệp trong nước, chuyển đổi xanh và phát triển bền vững.
Đồng thời, chuyển từ phát triển FDI đơn lẻ sang phát triển đồng bộ hệ sinh thái các dòng vốn quốc tế. Đây là điểm mới nổi bật của Nghị quyết khi đặt đầu tư trực tiếp, đầu tư gián tiếp, thị trường vốn, trung tâm tài chính quốc tế và các không gian phát triển mới (như khu thương mại tự do, các đặc khu kinh tế,...) trong một chỉnh thể thống nhất nhằm nâng cao hiệu quả huy động và phân bổ nguồn lực.
Chuyển từ quản lý đầu tư sang kiến tạo môi trường đầu tư và phát triển. Nhà nước tập trung hoàn thiện thể chế, nâng cao chất lượng quản trị quốc gia, phát triển hạ tầng, nguồn nhân lực và hệ sinh thái đổi mới sáng tạo để tạo môi trường thuận lợi cho các nguồn lực trong nước và quốc tế cùng phát triển.

Điểm cầu tại Ngân hàng Nhà nước Việt Nam

Và cuối cùng là chuyển từ cạnh tranh thu hút đầu tư giữa các địa phương sang điều phối phát triển ở tầm quốc gia. Nghị quyết yêu cầu tăng cường liên kết vùng, liên kết giữa khu vực đầu tư nước ngoài với khu vực kinh tế trong nước, phát huy vai trò của các cực tăng trưởng, đổi mới sáng tạo để nâng cao hiệu quả phát triển chung của nền kinh tế.
“Sáu quan điểm chỉ đạo với các điểm đổi mới trên cho thấy nếu trước đây trọng tâm là thu hút các nguồn vốn quốc tế, thì trong giai đoạn mới, mục tiêu cao hơn là phát huy hiệu quả các nguồn lực đó để cùng với nội lực của đất nước kiến tạo những năng lực phát triển mới, nâng cao năng lực tự chủ, năng lực cạnh tranh và sức chống chịu của nền kinh tế”, đồng chí Phạm Gia Túc cho biết.
8 nhiệm vụ trọng tâm trong thời gian tới
Phát biểu chỉ đạo hội nghị, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đề nghị các cấp, các ngành, các địa phương tập trung quán triệt và tổ chức thực hiện tốt 08 nhiệm vụ trọng tâm.
Thứ nhất, phải thống nhất nhận thức, đổi mới mạnh mẽ tư duy về đầu tư nước ngoài. Kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài là bộ phận quan trọng của nền kinh tế quốc dân, cùng hợp tác, cạnh tranh lành mạnh và phát triển với kinh tế nhà nước, kinh tế tư nhân và kinh tế hợp tác. Tạo mọi điều kiện thuận lợi để các nhà đầu tư có năng lực, công nghệ, trách nhiệm và cam kết lâu dài đầu tư, kinh doanh thành công tại Việt Nam. Đồng thời, phải sàng lọc chặt chẽ, không tiếp nhận các dự án công nghệ lạc hậu, tiêu hao nhiều năng lượng, sử dụng đất kém hiệu quả, có nguy cơ gây ô nhiễm, chuyển giá, trốn thuế, lẩn tránh xuất xứ hoặc gây rủi ro đối với quốc phòng, an ninh, dữ liệu và hạ tầng trọng yếu.

Toàn cảnh điểm cầu tại Ngân hàng Nhà nước Việt Nam

Thứ hai, hoàn thiện thể chế theo hướng ổn định, minh bạch, có khả năng dự báo và phù hợp với thông lệ quốc tế. Các bộ, ngành phải rà soát, đồng bộ hóa các quy định liên quan đến đầu tư, kinh doanh và thị trường. Kiên quyết xử lý tình trạng chồng chéo, mâu thuẫn, thủ tục rườm rà và cách hiểu không thống nhất giữa các cơ quan, địa phương. Không để nhà đầu tư phải đi qua quá nhiều cửa, mất quá nhiều thời gian và chi phí để triển khai một dự án hợp pháp. Các cơ quan nhà nước phải chuyển mạnh từ tư duy quản lý sang kiến tạo phát triển, quản trị hiện đại và phục vụ doanh nghiệp. Không chỉ giải quyết thủ tục nhanh hơn, mà phải giúp nhà đầu tư dự báo được chính sách, nhìn rõ triển vọng và yên tâm đầu tư dài hạn.
Thứ ba, bỏ tư duy ưu đãi đầu vào, thay bằng hỗ trợ dựa trên kết quả đầu ra, gắn với mức độ thực hiện cam kết. Những dự án có công nghệ tiên tiến, đầu tư nghiên cứu phát triển, đóng góp cho chuyển đổi xanh, chuyển đổi số, đào tạo lao động Việt Nam, sử dụng nhà cung ứng trong nước, chuyển giao công nghệ, tiết kiệm đất đai, năng lượng và giảm phát thải phải được hỗ trợ tương xứng. Ngược lại, dự án chậm triển khai, sử dụng đất lãng phí, gây ô nhiễm, chuyển giá, vi phạm pháp luật hoặc không thực hiện đúng cam kết phải bị xử lý nghiêm. Tùy theo mức độ vi phạm, nếu cần thiết thì thu hồi ưu đãi, thu hồi đất hoặc chấm dứt dự án.
Thứ tư, phát triển mạnh hệ sinh thái công nghiệp trong nước và liên kết thực chất giữa doanh nghiệp FDI với doanh nghiệp Việt Nam. Đây là nhiệm vụ trung tâm của Nghị quyết. Các bộ, ngành, địa phương không chỉ mời gọi các tập đoàn nước ngoài mà phải đồng thời nâng cao năng lực doanh nghiệp Việt Nam để trở thành nhà cung ứng của họ. Cần xây dựng cơ sở dữ liệu về nhà cung ứng, tăng cường kết nối FDI với doanh nghiệp trong nước, hỗ trợ doanh nghiệp Việt Nam nâng cấp quản trị, tiêu chuẩn kỹ thuật, năng lực tài chính, truy xuất nguồn gốc, sở hữu trí tuệ và chuyển đổi số. Doanh nghiệp FDI cần công bố nhu cầu mua sắm, tiêu chuẩn kỹ thuật, lộ trình nội địa hóa và cơ hội hợp tác. Các tập đoàn lớn đầu tư tại Việt Nam phải đồng hành phát triển công nghiệp hỗ trợ, đào tạo nhà cung ứng, chia sẻ tiêu chuẩn, chuyển giao tri thức và tạo điều kiện để doanh nghiệp trong nước tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị.
Thứ năm, phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao là điều kiện quyết định. Không có đội ngũ kỹ sư, chuyên gia, kỹ thuật viên và nhà quản trị giỏi thì không thể thu hút, giữ chân các dự án công nghệ cao, cũng không thể chuyển từ gia công, lắp ráp sang thiết kế, nghiên cứu, sản xuất sản phẩm và dịch vụ có giá trị gia tăng cao. Các địa phương có Khu công nghiệp, khu kinh tế, khu công nghệ cao phải chủ động liên kết với các cơ sở giáo dục, viện nghiên cứu và doanh nghiệp để đào tạo theo nhu cầu của ngành, cụm liên kết và các dự án chiến lược. Phải tạo điều kiện để người Việt Nam từng bước đảm nhận các vị trí kỹ thuật, quản lý, nghiên cứu, thiết kế và vận hành chuỗi cung ứng trong doanh nghiệp FDI.
Thứ sáu, đầu tư mạnh hơn cho hạ tầng chiến lược và hạ tầng phục vụ nền kinh tế mới. Muốn thu hút các dự án lớn, công nghệ cao, trung tâm dữ liệu, trung tâm nghiên cứu, trung tâm tài chính, khu thương mại tự do hay nhà máy hiện đại, phải có điện ổn định, năng lượng sạch, cảng biển, sân bay, đường cao tốc, đường sắt, hạ tầng số, khu công nghiệp sinh thái và môi trường sống tốt cho chuyên gia, người lao động. Phải coi hạ tầng là nền tảng của năng lực cạnh tranh quốc gia. Các địa phương không thể tiếp tục phát triển Khu công nghiệp manh mún, dàn trải, thiếu kết nối, thiếu nhà ở công nhân, dịch vụ xã hội, đào tạo nghề, thiếu liên kết với doanh nghiệp trong nước.
Thứ bảy, đổi mới căn bản công tác xúc tiến đầu tư. Không tiếp cận tràn lan mà gặp gỡ có mục tiêu, chuẩn bị kỹ làm việc với từng tập đoàn hoặc một nhóm tập đoàn, quỹ đầu tư, đối tác chiến lược. (Xác định rõ đối tác cần mời, ngành cần thu hút, địa điểm dự án và các điều kiện cần chuẩn bị về đất đai, điện, hạ tầng, nhân lực, chính sách và nhà cung ứng). Phải đồng hành với nhà đầu tư từ khi tìm hiểu đến triển khai, vận hành và mở rộng. Hỗ trợ sau cấp phép, tháo gỡ vướng mắc cho dự án hiện hữu, tạo điều kiện, khuyến khích để nhà đầu tư mở rộng đầu tư, giữ lại lợi nhuận tái đầu tư thay vì chuyển về nước.
Thứ tám, phát triển thị trường vốn hiện đại để thu hút dòng vốn đầu tư gián tiếp dài hạn, ổn định và có trách nhiệm. Nghị quyết 10 không chỉ đặt vấn đề về FDI mà còn yêu cầu phát triển thị trường vốn, nâng hạng thị trường chứng khoán, các quỹ đầu tư, trung tâm tài chính quốc tế và khu thương mại tự do. Việt Nam không chỉ là nơi đặt nhà máy mà phải trở thành nơi huy động, phân bổ vốn và cung cấp các dịch vụ tài chính, công nghệ, đổi mới sáng tạo cho khu vực. Quá trình này phải gắn với an ninh tài chính, an toàn hệ thống, minh bạch thông tin, bảo vệ nhà đầu tư và kiểm soát rủi ro về dòng vốn, rửa tiền, đầu cơ, thao túng thị trường.
Tổng Bí thư cho rằng, chúng ta bước vào giai đoạn phát triển thế hệ mới với một tâm thế mới. Việt Nam không thu hút đầu tư bằng mọi giá mà phải là quốc gia có chiến lược, có lựa chọn, có năng lực sàng lọc và đồng hành với các nhà đầu tư tốt để cùng tạo ra giá trị mới. Chúng ta hoan nghênh các nhà đầu tư nước ngoài đến Việt Nam làm ăn lâu dài, tuân thủ pháp luật, tôn trọng lợi ích chính đáng của người lao động, cộng đồng và đất nước, cùng chia sẻ công nghệ, đào tạo nhân lực, phát triển doanh nghiệp trong nước và nâng cao vị thế Việt Nam trong chuỗi giá trị toàn cầu.
Tinh thần của Nghị quyết 10 rất rõ: thu hút đầu tư nước ngoài không phải để thay thế nội lực mà để làm mạnh nội lực, nâng cao tự chủ; không chỉ để tăng trưởng nhanh mà để phát triển bền vững, bao trùm và có chất lượng cao.
Tổng Bí thư đề nghị toàn hệ thống chính trị, cộng đồng doanh nghiệp và các nhà đầu tư trong, ngoài nước phát huy cao nhất tinh thần trách nhiệm, đổi mới, sáng tạo, quyết tâm đưa Nghị quyết đi vào cuộc sống, biến chủ trương đúng đắn thành những dự án tốt, doanh nghiệp mạnh, chuỗi giá trị mới, việc làm chất lượng cao và năng lực mới cho đất nước. “Đó là cách thiết thực nhất để tiếp tục viết nên một chương mới của công cuộc đổi mới, hội nhập và phát triển; đưa Việt Nam tiến nhanh, tiến vững chắc trên con đường trở thành nước phát triển, thu nhập cao vào năm 2045”, Tổng Bí thư nhấn mạnh.

Nguồn: Thoibaonganhang