Chế biến sâu để nâng giá trị và tạo lợi thế cạnh tranh
Giữa bối cảnh nhiều doanh nghiệp xuất khẩu nông sản chịu áp lực từ biến động thị trường và các tiêu chuẩn xanh ngày càng khắt khe, Tập đoàn Phúc Sinh vẫn đặt mục tiêu tăng trưởng doanh thu khoảng 25% trong năm 2026. Theo đại diện doanh nghiệp, nền tảng của kết quả này đến từ chiến lược đầu tư dài hạn vào chế biến sâu, phát triển bền vững và xây dựng thương hiệu.
Ông Phan Minh Thông, Chủ tịch HĐQT, Tổng giám đốc Tập đoàn Phúc Sinh cho biết, sau 25 năm phát triển, doanh nghiệp đã đạt doanh thu khoảng 6.000 tỷ đồng trong 6 tháng đầu năm 2026 và dự kiến cả năm vượt mốc 420 triệu USD. Đây là kết quả của việc lựa chọn đầu tư mạnh vào công nghệ chế biến để tạo giá trị gia tăng.
"Nếu chỉ bán nông sản thô thì rất khó cạnh tranh. Chế biến sâu giúp doanh nghiệp mua được nguyên liệu của nông dân với giá tốt hơn, đồng thời tạo ra sản phẩm khác biệt và bán với giá trị cao hơn", ông Thông nói.
Câu chuyện bắt đầu từ năm 2005, khi doanh nghiệp đầu tư các nhà máy chế biến và duy trì chiến lược tái đầu tư liên tục. Đến nay, doanh nghiệp đã sở hữu 6 nhà máy và đang tiếp tục đầu tư hai dự án chế biến quy mô lớn, trong đó có trung tâm chế biến tại Đắk Nông.
"Nông sản Việt Nam không chỉ cần được xuất khẩu, mà phải được lựa chọn, được tin tưởng và được trả giá xứng đáng trên thị trường quốc tế".
- Ông Nguyễn Mạnh Hùng, Tổng giám đốc Nafoods Group
Không chỉ tập trung vào các sản phẩm truyền thống như hạt tiêu, Phúc Sinh còn phát triển nhiều dòng sản phẩm chế biến có giá trị gia tăng như tiêu xanh sấy lạnh, tiêu hồng sấy lạnh hay trà Cascara - sản phẩm được chế biến từ vỏ quả cà phê chín. Theo ông Thông, đây đều là những thị trường ngách nhưng mang lại giá trị cao và tạo sự khác biệt cho doanh nghiệp Việt trên thị trường quốc tế.
Bên cạnh chế biến sâu, phát triển bền vững được Phúc Sinh xác định là chiến lược xuyên suốt từ năm 2008. Doanh nghiệp đã
áp dụng các tiêu chuẩn quốc tế về phát triển bền vững từ rất sớm, đồng thời đầu tư xây dựng chuỗi cung ứng đáp ứng các yêu cầu ngày càng khắt khe của thị trường xuất khẩu, đặc biệt là châu Âu.
“Việc đáp ứng các tiêu chuẩn xanh không chỉ giúp doanh nghiệp mở rộng thị trường mà còn nâng cao giá trị thương hiệu và khả năng cạnh tranh của nông sản Việt. Chỉ có thương hiệu mới giúp nông sản Việt tạo ra giá trị lớn hơn trên thị trường toàn cầu", ông Thông nhấn mạnh.
Câu chuyện tương tự cũng diễn ra tại Công ty cổ phần Nafoods Group, đơn vị lựa chọn phát triển theo mô hình chuỗi giá trị khép kín, bắt đầu từ nhu cầu của thị trường rồi mới quay trở lại khâu giống, vùng nguyên liệu và quy trình sản xuất. Hiện Nafoods Group sở hữu 5 nhà máy, 2 viện nghiên cứu giống công nghệ cao, hơn 50.000 ha vùng nguyên liệu liên kết với hợp tác xã và nông dân, đồng thời đưa sản phẩm đến khoảng 70 quốc gia và vùng lãnh thổ.
Ông Nguyễn Mạnh Hùng, Tổng giám đốc Nafoods Group chia sẻ, mục tiêu của doanh nghiệp không chỉ là mở rộng quy mô mà là xây dựng một hệ sinh thái nông nghiệp vận hành theo tư duy kinh tế. Trong đó, mọi khâu từ giống, canh tác, chế biến đến thương mại đều hướng tới yêu cầu của thị trường.
Lãnh đạo Nafoods Group cho biết thêm, một trong những hướng đi được ưu tiên là đầu tư vào chế biến sâu và chuyển đổi số. Chế biến không chỉ giúp gia tăng giá trị sản phẩm mà còn kéo dài thời gian bảo quản, giảm áp lực tiêu thụ theo mùa vụ và nâng cao khả năng ứng phó trước những biến động của thị trường cũng như khí hậu. Song song đó, doanh nghiệp ứng dụng dữ liệu trong quản lý vùng trồng, dự báo sản lượng và truy xuất nguồn gốc nhằm đáp ứng các tiêu chuẩn ngày càng cao của thị trường xuất khẩu.
Hoàn thiện thể chế để doanh nghiệp bứt tốc
Từ kinh nghiệm thực tiễn, lãnh đạo các doanh nghiệp và chuyên gia cho rằng, động lực tăng trưởng mới của ngành nông nghiệp không chỉ đến từ việc mở rộng diện tích hay tăng sản lượng, mà phải dựa trên ba trụ cột: tiêu chuẩn hóa, chế biến sâu và xây dựng thương hiệu. Song, việc hiện thực hóa mục tiêu này vẫn đang vấp phải không ít rào cản về thể chế, đất đai, tín dụng và hạ tầng.
TS. Phạm Viết Thuận, Viện trưởng Viện Kinh tế Tài nguyên và Môi trường TP.HCM cho biết, tỷ trọng đóng góp của khu vực nông nghiệp trong GDP đang có xu hướng giảm dần, từ 12,34% năm 2024 xuống 11,2% năm 2025 và dự kiến còn khoảng 10,38% trong năm 2026. Nếu tiếp tục phát triển theo tư duy mở rộng diện tích và gia tăng sản lượng, nông nghiệp sẽ khó tạo ra bước đột phá về giá trị. Thay vào đó, cần kiến tạo một không gian phát triển mới dựa trên tư duy kinh tế nông nghiệp, kinh tế tuần hoàn và chuỗi giá trị đa tầng.
Chuyên gia này chỉ ra rằng, điểm nghẽn đầu tiên nằm ở chính sách đất đai. Mặc dù Luật Đất đai đã mở ra cơ chế tích tụ đất nông nghiệp, song quá trình triển khai tại nhiều địa phương vẫn thiếu linh hoạt. Không ít doanh nghiệp muốn chuyển đổi mô hình sản xuất trên đất lúa hoặc đầu tư các mô hình nông nghiệp công nghệ cao vẫn gặp nhiều vướng mắc về thủ tục, khiến cơ hội đầu tư bị bỏ lỡ.
Bên cạnh đó, bài toán vốn vẫn là rào cản lớn khi phần lớn các tổ chức tín dụng hiện vẫn cho vay dựa trên tài sản thế chấp thay vì hiệu quả của dự án hay dòng tiền trong chuỗi sản xuất. Nhiều tài sản đầu tư trên đất nông nghiệp như hệ thống chuồng trại, nhà kính hay cơ sở chế biến chưa được định giá tương xứng, khiến doanh nghiệp khó tiếp cận nguồn vốn để mở rộng sản xuất.
Chi phí logistics và hạ tầng kết nối tại nhiều vùng nguyên liệu cũng làm giảm sức hấp dẫn của các dự án nông nghiệp quy mô lớn. Trong khi đó, chuỗi phân phối còn nhiều tầng nấc trung gian khiến giá trị gia tăng chưa được phân bổ hợp lý. Người sản xuất và doanh nghiệp trực tiếp vẫn hưởng tỷ lệ lợi nhuận thấp so với giá bán cuối cùng trên thị trường.
Để tháo gỡ những điểm nghẽn này, chuyên gia kiến nghị cần chuyển mạnh từ hỗ trợ sản xuất sang hỗ trợ phát triển chuỗi giá trị. Cùng với đó là việc hoàn thiện cơ chế tích tụ đất đai; cải cách chính sách tín dụng theo hướng đánh giá dự án, dòng tiền thay vì chỉ dựa vào tài sản thế chấp; đầu tư đồng bộ vào hạ tầng logistics, kho lạnh, trung tâm chế biến và hệ thống truy xuất nguồn gốc.
Đặc biệt, chuyển đổi số được xem là nền tảng quan trọng giúp doanh nghiệp đáp ứng tốt hơn các yêu cầu về truy xuất nguồn gốc, tiêu chuẩn môi trường và phát thải của các thị trường xuất khẩu. Bên cạnh đó, mô hình hợp tác xã và kinh tế tập thể cần được phát huy vai trò là cầu nối giữa nông dân với doanh nghiệp, tạo điều kiện tích tụ đất đai, tổ chức vùng nguyên liệu quy mô lớn và tiếp cận các nguồn vốn xanh từ các tổ chức quốc tế.
"Chỉ khi các điểm nghẽn về thể chế, tín dụng, dữ liệu và liên kết chuỗi được tháo gỡ đồng bộ, nông nghiệp Việt Nam mới có thể mở rộng không gian phát triển, nâng cao giá trị gia tăng và xây dựng được những doanh nghiệp đủ sức cạnh tranh trên thị trường toàn cầu", TS. Phạm Viết Thuận nhấn mạnh.
Dưới góc độ lãnh đạo doanh nghiệp, ông Nguyễn Mạnh Hùng cho rằng, thách thức của nông nghiệp Việt Nam hiện nay không còn nằm ở năng lực sản xuất, mà ở khả năng đáp ứng những tiêu chuẩn ngày càng khắt khe của thị trường quốc tế.
Theo ông Hùng, các thị trường như châu Âu, Mỹ không chỉ kiểm soát chặt dư lượng thuốc bảo vệ thực vật mà còn mở rộng các tiêu chí về truy xuất nguồn gốc, phát thải và an toàn môi trường. Ngay cả những yếu tố như hàm lượng Nickel trong nông sản - phát sinh từ điều kiện canh tác, phân bón hay môi trường sản xuất - cũng có thể trở thành rào cản khiến sản phẩm không đủ điều kiện xuất khẩu.
"Muốn đi vào phân khúc cao cấp, nông sản Việt Nam không chỉ ngon mà phải đáp ứng được hệ thống tiêu chuẩn quốc tế và tạo được niềm tin với người tiêu dùng", ông Hùng nói.
Một điểm nghẽn khác là sự thiếu bền vững trong liên kết giữa doanh nghiệp với người sản xuất. Nafoods từng phải đóng cửa một nhà máy sau nhiều năm đầu tư chỉ vì vùng nguyên liệu bị phá vỡ khi nông dân bán sản phẩm cho thương lái có giá cao hơn trong ngắn hạn. Điều đó cho thấy, nếu thiếu cơ chế liên kết đủ chặt chẽ và chia sẻ lợi ích hài hòa, doanh nghiệp rất khó yên tâm đầu tư dài hạn vào chế biến và phát triển vùng nguyên liệu.
Bên cạnh đó, chuyển đổi số cũng cần được triển khai từ nhu cầu thực tế của người sản xuất. Bởi dữ liệu chỉ có giá trị khi nông dân, hợp tác xã và doanh nghiệp cùng tham gia cập nhật, chia sẻ thông tin và nhìn thấy lợi ích kinh tế trực tiếp. Nếu chỉ dừng ở việc số hóa hồ sơ hay truy xuất nguồn gốc mang tính hình thức thì khó tạo ra thay đổi trong sản xuất.
Từ những kinh nghiệm thực tiễn, ông Nguyễn Mạnh Hùng kiến nghị cần có một chiến lược dài hạn để phát triển nông nghiệp như một ngành kinh tế mũi nhọn, với các chính sách đồng bộ về đất đai, tín dụng, khoa học công nghệ và hạ tầng chế biến. Khi nông nghiệp được đặt trong tầm nhìn phát triển đủ lớn, doanh nghiệp mới mạnh dạn đầu tư dài hạn, qua đó tạo động lực nâng cao giá trị nông sản và sức cạnh tranh trên thị trường toàn cầu.

Nguồn: Việt Dũng/Báo Tài chính - Đầu tư