Từ thuế quan đến bài toán năng lực cạnh tranh
Ngày 24/7/2026, Mỹ công bố mức thuế nhập khẩu bổ sung theo Điều 301 của Đạo luật Thương mại năm 1974 đối với 60 nền kinh tế. Theo đó, Việt Nam nằm trong nhóm 43 quốc gia chịu mức thuế cao nhất, 12,5% thay cho mức 10% trước đó, ngoại trừ các mặt hàng được miễn trừ.
Theo ông Nguyễn Trọng Đình Tâm, Giám đốc khu vực cấp cao, Công ty Chứng khoán HD, mức thuế nâng lên từ 10% đến 12,5% sẽ tiếp tục bào mòn biên lợi nhuận của các doanh nghiệp xuất khẩu, nhất là những ngành có lợi nhuận “mỏng” như gia công dệt may. Ngoài việc cạnh tranh gay gắt hơn để giành đơn hàng, Việt Nam cũng có thể gặp bất lợi trong thu hút dòng vốn FDI so với các quốc gia chỉ chịu mức thuế 10%, qua đó ảnh hưởng gián tiếp đến hoạt động của doanh nghiệp.
Công ty Chứng khoán Mirae Asset Việt Nam đánh giá, mức thuế 12,5% khiến chi phí xuất khẩu của hàng hóa Việt Nam vào Mỹ cao hơn khoảng 2,5 điểm phần trăm so với nhiều nước ASEAN, qua đó làm suy giảm lợi thế cạnh tranh về giá.
Theo đơn vị này, dệt may, da giày, gỗ - nội thất và thủy sản là những lĩnh vực chịu ảnh hưởng tiêu cực rõ rệt. Cụ thể, ngành gỗ và nội thất - lĩnh vực có Mỹ là thị trường lớn nhất (chiếm hơn 55% tổng kim ngạch xuất khẩu) với các doanh nghiệp đại diện như TTF, ACG, GDT, SAV, PTB… - sẽ chịu tác động trực tiếp.
Với việc thị trường Mỹ đóng góp 40-50% kim ngạch xuất khẩu, các doanh nghiệp dệt may như TNG, MSH, STK, TCM, VGT và GIL sẽ chịu tác động đáng kể từ mức thuế bổ sung 12,5%. Trong bối cảnh biên lợi nhuận chỉ từ 3-10%, nhóm doanh nghiệp này có nguy cơ mất khoảng 2,5% lợi thế về giá so với các đối thủ như Bangladesh, Campuchia và Indonesia.
Các doanh nghiệp thủy sản (VHC, ANV, MPC, FMC…), da giày (ADS…) cũng đối mặt với sức ép tương tự do phụ thuộc lớn vào thị trường Mỹ và có biên lợi nhuận thấp.
Trước đó, trong năm 2025, ngành gỗ Việt Nam liên tiếp đối mặt với các cuộc điều tra chống bán phá giá, chống trợ cấp, chống lẩn tránh thuế… từ thị trường xuất khẩu chủ lực là Mỹ.

Doanh nghiệp buộc phải lựa chọn: hoặc đẩy mạnh “chuyển đổi kép”, hoặc đối mặt với nguy cơ bị loại khỏi chuỗi cung ứng toàn cầu.

Tuy nhiên, thuế quan không phải là sức ép duy nhất. Cùng lúc, nhiều thị trường xuất khẩu lớn cũng đang yêu cầu bổ sung những “giấy thông hành mới” về phát triển bền vững, truy xuất nguồn gốc, ESG và chuyển đổi số. Những yêu cầu này không còn mang tính khuyến khích, mà đang trở thành điều kiện bắt buộc để doanh nghiệp duy trì khả năng cạnh tranh trên thị trường quốc tế.
Chẳng hạn, Cơ chế Điều chỉnh Biên giới Carbon (CBAM) của Liên minh châu Âu (EU) đã chính thức áp dụng từ 1/1/2026; buộc các doanh nghiệp ngành thép, xi măng, nhôm, phân bón... phải kê khai và chịu chi phí carbon nếu phát thải cao. Quy định chống phá rừng của EU (EUDR) cũng yêu cầu các sản phẩm gỗ, cà phê, cao su... phải chứng minh nguồn gốc hợp pháp và không liên quan đến phá rừng.
Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) nhận định, doanh nghiệp Việt đang bước vào “cuộc đua minh bạch dữ liệu” để đáp ứng yêu cầu ngày càng khắt khe của các thị trường xuất khẩu lớn như EU, Mỹ, Nhật Bản... Theo đó, doanh nghiệp buộc phải lựa chọn: hoặc đẩy mạnh “chuyển đổi kép” (chuyển đổi số kết hợp chuyển đổi xanh), hoặc đối mặt với nguy cơ bị loại khỏi chuỗi cung ứng toàn cầu.
Theo ông Ngô Sỹ Hoài, Phó chủ tịch kiêm Tổng thư ký Hiệp hội Gỗ và Lâm sản Việt Nam (Viforest), doanh nghiệp nào quản trị minh bạch, ứng dụng công nghệ và bảo đảm khả năng truy xuất nguồn gốc sẽ có lợi thế khi đối mặt với các vụ việc phòng vệ thương mại.
Trong khi đó, ông Nguyễn Quốc Khanh, Chủ tịch Viforest nhận định, mô hình tăng trưởng dựa vào gia công, mở rộng công suất và tập trung vào một số thị trường chủ lực đã giúp ngành gỗ Việt Nam bứt phá trong nhiều năm; nhưng lại đang bộc lộ giới hạn khi bối cảnh kinh doanh thay đổi.
“Doanh thu và sản lượng vẫn tăng, nhưng giá trị giữ lại trong nước không tăng tương xứng. Quy mô lớn hơn vì thế chưa chắc tạo ra năng lực cạnh tranh mạnh hơn, mà có thể khiến doanh nghiệp dễ tổn thương hơn trước các cú sốc bên ngoài”, ông Khanh nói.
Chủ động thích ứng
Mùa báo cáo kết quả kinh doanh quý II/2026 đang chứng kiến tín hiệu tích cực khi nhiều doanh nghiệp niêm yết hoạt động trong lĩnh vực xuất khẩu ghi nhận lợi nhuận tăng nhanh hơn tốc độ tăng doanh thu, phản ánh hiệu quả hoạt động được cải thiện nhờ kiểm soát chi phí và tối ưu hóa vận hành. 
Trong quý II/2026, TNG ghi nhận doanh thu hơn 2.914 tỷ đồng, tăng 15% so với cùng kỳ; lợi nhuận sau thuế đạt 147 tỷ đồng, tăng 22% và là mức cao nhất trong lịch sử doanh nghiệp. Lũy kế 6 tháng đầu năm, doanh thu tăng 20%, trong khi lợi nhuận tăng tới 26%, đạt 204 tỷ đồng. Lãnh đạo TNG cho biết, kết quả này đến từ việc mở rộng quy mô sản xuất, tập trung vào các đơn hàng có giá trị gia tăng cao, đẩy nhanh tiến độ giao hàng xuất khẩu, đồng thời đẩy mạnh số hóa và tự động hóa để nâng cao năng suất, giảm chi phí sản xuất.
Ngành da giày cũng ghi nhận hoạt động tích cực khi nửa đầu năm nay, kim ngạch xuất khẩu sang thị trường Mỹ ước đạt 4,55 tỷ USD, tăng hơn 6% so với cùng kỳ và chiếm gần 39% tổng kim ngạch xuất khẩu toàn ngành. Đặc biệt, từ quý I/2026, Việt Nam đã vượt Trung Quốc để trở thành nhà cung cấp giày dép lớn nhất cho thị trường này với kim ngạch đạt 2,47 tỷ USD, tăng 9,27%, qua đó phản ánh năng lực cạnh tranh ngày càng được nâng cao.
Bà Phan Thị Thanh Xuân, Phó chủ tịch kiêm Tổng thư ký Hiệp hội Da giày - Túi xách Việt Nam (Lefaso) đánh giá, thời gian qua nhiều doanh nghiệp trong ngành đã tăng đầu tư vào công nghệ sạch, tự động hóa, chuyển đổi số. Việc tận dụng hiệu quả 17 hiệp định thương mại tự do (FTA) mà Việt Nam đã ký kết cũng mở ra thêm dư địa tăng trưởng cho doanh nghiệp. Bên cạnh các thị trường truyền thống, doanh nghiệp tích cực mở rộng đơn hàng sang Ấn Độ, Trung Đông và châu Phi để đa dạng hóa thị trường.
Trong khi đó, để duy trì đà tăng trưởng, các doanh nghiệp gỗ đã chủ động thích ứng từ rất sớm. Ông Nguyễn Liêm, Tổng giám đốc Công ty cổ phần Lâm Việt cho biết, các doanh nghiệp đã chủ động chuẩn bị đầy đủ hồ sơ, tài liệu phục vụ truy xuất nguồn gốc nguyên phụ liệu.
“Trước đây chủ yếu làm theo đơn đặt hàng của nước ngoài (OEM), nay doanh nghiệp đã làm ODM, có thiết kế riêng và bán cho các nhà bán lẻ, bán trực tiếp qua thương mại điện tử”, ông Liêm nói.
Những chuyển động này cũng phù hợp với nhận định của Tổ chức Hợp tác Kinh tế Quốc tế (OECD) trong báo cáo “OECD Economic Surveys: Viet Nam 2025” (Khảo sát Kinh tế OECD: Việt Nam 2025) công bố ngày 20/6/2025. OECD cho rằng, tăng trưởng của Việt Nam giai đoạn 2010-2022 chủ yếu dựa vào tích lũy vốn. Để trở thành quốc gia có thu nhập cao vào năm 2045, Việt Nam cần tạo bước tiến nhanh hơn về năng suất trên nền tảng khoa học - công nghệ và đổi mới sáng tạo.
Trong một phát biểu mới đây, GS. Trần Văn Thọ, chuyên gia kinh tế quốc tế, nguyên thành viên Tổ tư vấn kinh tế của Thủ tướng Chính phủ khuyến nghị, để giải quyết bài toán “giá trị gia tăng mỏng” và thoát “bẫy gia công”, Việt Nam cần tích luỹ nội lực để dần thay thế ngoại lực.
Dẫn bài học vươn lên từ lắp ráp đến làm chủ công nghệ của thương hiệu Hyundai (Hàn Quốc), GS. Trần Văn Thọ cho rằng, để làm chủ chuỗi cung ứng, cần có sự liên kết giữa các tập đoàn lớn và các doanh nghiệp FDI với doanh nghiệp nhỏ và vừa (SME) để tạo ra sức lan tỏa về tri thức kinh doanh cũng như công nghệ tiên tiến.
Theo GS. Trần Văn Thọ, có hai cách thúc đẩy sự liên kết này: thông qua các chính sách hỗ trợ của Chính phủ hoặc thông qua cơ chế thị trường. Ở trường hợp thứ hai, doanh nghiệp lớn chủ động chuyển giao công nghệ cho doanh nghiệp SME để hình thành chuỗi cung ứng nội địa, thay vì phụ thuộc vào nguồn nguyên liệu nhập khẩu.
“Nhưng để cơ chế thị trường này vận hành hiệu quả, để doanh nghiệp lớn và SME tự kết nối với nhau, bản thân các doanh nghiệp SME cũng phải mạnh lên. Phải đủ năng lực cung ứng được tiêu chuẩn của doanh nghiệp lớn thì họ mới hợp tác với mình”, GS. Trần Văn Thọ nói.

Nguồn: Tin nhanh chứng khoán - Cổng thông tin Tài chính, Chứng khoán