Nhóm kim loại quý tiếp tục là điểm sáng của thị trường. Giá vàng đạt 5.054,82 USD/ounce, tăng 0,62% so với tuần trước và tăng gần 10% từ đầu năm. So với cùng kỳ năm trước, mức tăng lên tới hơn 17%, cho thấy dòng tiền trú ẩn vẫn duy trì ổn định trong bối cảnh thị trường tài chính toàn cầu còn nhiều yếu tố bất định. Bạc tăng mạnh 2,31% theo tuần, tuy nhiên vẫn giảm so với tháng trước và giảm nhẹ từ đầu năm, phản ánh sự giằng co giữa yếu tố trú ẩn và nhu cầu công nghiệp. Bạch kim cũng tăng hơn 2% trong tuần nhưng vẫn ghi nhận mức giảm gần 10% tính từ đầu năm, cho thấy xu hướng trung hạn vẫn chưa thực sự tích cực.
Nhóm kim loại cơ bản, tiêu biểu là đồng, ghi nhận mức tăng nhẹ 0,30% theo tuần và 1,38% theo tháng. Tuy nhiên, tính từ đầu năm, giá đồng vẫn giảm 1,67%. Diễn biến này cho thấy kỳ vọng phục hồi sản xuất công nghiệp có cải thiện trong ngắn hạn, song chưa đủ mạnh để đảo chiều xu hướng trung hạn.
Nhóm thép và nguyên liệu sản xuất thép tiếp tục chịu sức ép. Giá thép giao dịch bằng Nhân dân tệ giảm nhẹ 0,10% trong tuần và giảm hơn 2,6% từ đầu năm. Quặng sắt cũng trong xu hướng tương tự khi giá tính bằng CNY giảm 6,5% từ đầu năm, còn giá tính bằng USD giảm gần 6,9%. Dù có những nhịp tăng nhẹ theo tuần, mặt bằng giá chung vẫn cho thấy nhu cầu thép chưa phục hồi rõ rệt. Đáng chú ý, thép cuộn cán nóng (HRC) tính bằng USD lại duy trì xu hướng tích cực hơn, tăng 3,39% từ đầu năm, phản ánh sự cải thiện tương đối của thị trường thép xuất khẩu so với thị trường nội địa Trung Quốc. Giá thép phế liệu biến động không lớn, tăng nhẹ trong tuần nhưng vẫn giảm nhẹ so với đầu năm.
Nhóm kim loại phục vụ công nghệ và năng lượng ghi nhận diễn biến kém khả quan hơn. Lithium dù tăng nhẹ 0,37% theo tuần nhưng giảm hơn 11% so với tháng trước và giảm trên 10% từ đầu năm, cho thấy áp lực dư cung hoặc nhu cầu pin xe điện chững lại. Silicon tiếp tục xu hướng giảm trên hầu hết các mốc thời gian, giảm gần 6% so với tháng trước và hơn 4% từ đầu năm. Titan tương đối ổn định, không biến động theo tuần và tháng, chỉ tăng nhẹ từ đầu năm.
Nhìn chung, thị trường kim loại ngày 11/2 cho thấy sự phân hóa rõ ràng: dòng tiền vẫn tập trung vào vàng như một tài sản an toàn, trong khi nhóm kim loại gắn với sản xuất công nghiệp và xây dựng tiếp tục chịu áp lực do triển vọng nhu cầu chưa thực sự cải thiện. Xu hướng này phản ánh bức tranh kinh tế toàn cầu còn nhiều thách thức trong ngắn và trung hạn.
Diễn biến giá các mặt hàng kim loại thế giới ngày 11/2/2026
|
Kim loại
|
Giá
|
So với
1 tuần trước
|
So với
1 tháng trước
|
Từ đầu năm đến nay
|
So với 1 năm trước
|
|
Vàng
USD/t.oz
|
5054,82
|
0,62%
|
1,83%
|
9,94%
|
17,04%
|
|
Bạc
USD/t.oz
|
82,643
|
2,31%
|
-6,25%
|
-2,93%
|
16,00%
|
|
Đồng
USD/Lbs
|
5,9310
|
0,30%
|
1,38%
|
-1,67%
|
4,37%
|
|
Thép
CNY/T
|
3049,00
|
-0,10%
|
-1,33%
|
-2,62%
|
-1,52%
|
|
Lithium
CNY/T
|
136000
|
0,37%
|
-11,38%
|
-10,53%
|
14,77%
|
|
Quặng sắt CNY
CNY/T
|
763,00
|
-0,13%
|
-2,37%
|
-6,50%
|
-3,36%
|
|
Bạch kim
USD/t.oz
|
2143,70
|
2,06%
|
-1,51%
|
-9,95%
|
3,57%
|
|
Thép HRC
USD/T
|
975,00
|
0,52%
|
0,41%
|
3,39%
|
4,28%
|
|
Quặng sắt
USD/T
|
100,84
|
0,21%
|
-1,29%
|
-6,85%
|
-5,87%
|
|
Silicon
CNY/T
|
8285,00
|
-0,24%
|
-5,85%
|
-4,61%
|
-5,58%
|
|
Thép phế liệu
USD/T
|
373,50
|
0,27%
|
-0,27%
|
-1,06%
|
2,19%
|
|
Titan
CNY/KG
|
45,50
|
0,00%
|
0,00%
|
1,11%
|
-1,09%
|