Sáng nay (12/6), Bộ trưởng Bộ Khoa học Công nghệ Nguyễn Quân trả lời chất vấn tại Kỳ họp thứ 9, Quốc hội khóa XIII. Theo Bộ trưởng Nguyễn Quân, đây là một sự kiện đặc biệt đối với Bộ Khoa học Công nghệ khi 4 nhiệm kỳ qua, Bộ này không có đại diện tham dự Kỳ họp, vì thế ít có cơ hội tham gia vào các hoạt động của Quốc hội.


3 dạng đề tài khoa học xếp ngăn kéo

Đại biểu Nguyễn Mạnh Cường, tỉnh Quảng Bình cho biết mỗi năm, Ngân sách chi 1.300 tỷ đồng cho khoa học công nghệ nhưng nhiều đề tài làm xong xếp ngăn kéo, không được áp dụng. Vậy, hiệu quả nghiên cứu đi đến đâu?

Bộ trưởng Nguyễn Quân đính chính, mỗi năm chi cho khoa học công nghệ không phải ở mức 1.300 tỷ đồng mà vào khoảng 3.000 tỷ đồng. Theo Bộ trưởng, có 3 loại đề tài xếp ngăn kéo.

Thứ nhất là những đề tài nghiên cứu cơ bản. Về cơ bản, những công trình nghiên cứu này để xếp ngăn kéo, chờ thời gian ứng dụng chứ không phải được áp dụng ngay. Bộ trưởng lấy ví dụ về Chất bán dẫn được người Mỹ phát minh từ đầu thập kỷ 50 của thế kỷ trước nhưng phải xếp ngăn kéo, đến đầu thập kỷ 60 khi người Nhật mua, nó mới trở thành sản phẩm hàng hóa. Ngày nay mỗi năm chất bán dẫn đóng góp cho thế giới 20.000 tỷ USD, vì thế các đề tài nghiên cứu cơ bản phải chấp nhận có giai đoạn chờ đợi.

Thứ hai là những đề tài nghiên cứu ứng dụng. Bộ trưởng cho rằng, một số đề tài để thành sản phẩm hàng hóa thì phải có điều kiện đầu tư, nguồn đầu tư từ doanh nghiệp. Doanh nghiệp trong nước chủ yếu là nhỏ và siêu nhỏ nên chưa đủ năng lực đầu tư, cho nên vẫn phải chờ đợi đầu tư từ các tập đoàn lớn trong nước và nước ngoài.

Thứ ba, Bộ trưởng thừa nhận có 1 số đề tài được xếp ngăn kéo thật, nghiên cứu theo điều họ thích chứ chưa xuất phát từ thực tiễn, không ứng dụng được.

Để khắc phục tình trạng này, Luật Khoa học công nghệ năm 2013 quy định những nghiên cứu sử dụng ngân sách Nhà nước phải theo đặt hàng, xuất phát từ nhu cầu thực tiễn sản xuất kinh doanh. Nghị định 08 năm 2014 của Bộ Khoa học cũng quy định cơ chế đặt hàng. 

Theo đó tổ chức, cá nhân được đề xuất, nhưng các cơ quan quản lý nhà nước phải căn cứ vào nhiệm vụ, xác định đề xuất đó có phù hợp nhu cầu không, sau đó mới đề xuất với các cơ quan quản lý về khoa học công nghệ. Cơ quan đó phải cam kết sau khi nghiên cứu thành công phải được ứng dụng vào thực tiễn.

Cùng chung băn khoăn về chi phí Ngân sách cho hoạt động nghiên cứu khoa học kỹ thuật, đại biểu Đoàn Nguyễn Thùy Trang, TP. Hồ Chí Minh nêu Ngân sách Nhà nước dành cho khoa học kỹ thuật là 2% nhưng các năm qua, Bộ Khoa học và Công nghệ chưa bao giờ dùng hết chỉ tiêu. Như vậy, biện pháp khắc phục là gì?


Bộ trưởng Nguyễn Quân cho biết hàng năm dự toán ngân sách dành 2% tổng chi cho khoa học công nghệ. Phần thực giao dưới 2% vì để một phần dự phòng an ninh quốc phòng. Bộ đã có ý kiến phần dự phòng những năm gần đây quá nhiều, còn phần chi cho hoạt động khoa học công nghệ chỉ dưới 1,5%, chưa đủ đảm bảo hoạt động hiệu quả. 

Năm vừa qua, được sự ủng hộ của Bộ Tài chính, Bộ Khoa học Công nghệ được bố trí 1,52% tương đương 17.200 tỷ đồng nhưng chưa dành đến 20% trong tổng số tiền trên cho hoạt động nghiên cứu. 

Bộ trưởng cũng đề cập tới yếu tố bất cập trong duyệt chi kinh phí nghiên cứu, đó là đề tài được phê duyệt từ tháng 7 năm trước thì tháng 2 năm sau mới được duyệt chi. Điều đó dẫn đến tiền thì được duyệt mà đề tài không còn nghiên cứu được nữa do lỗi thời hoặc hết khả năng áp dụng. 

Do đó, Bộ cải thiện tình hình bằng cách kinh phí sẽ thực hiện theo cơ chế quỹ, đề tài đến đâu, phê duyệt đến đó, tránh chậm giải ngân, gây khó khăn. Các viện, trường không có kinh phí nghiên cứu trong khi các doanh nghiệp không dùng hết phải đóng góp cho các đơn vị nghiên cứu khác. Như tập đoàn Viettel dành nguồn quỹ cho khoa học công nghệ, nếu không dùng hết thì giúp cho quỹ nghiên cứu của Bộ Quốc phòng.

Vận hành thị trường khoa học công nghệ

Đại biểu Nguyễn Thị Kim Thúy, tỉnh Đà Nẵng nêu Việt Nam chưa có thị trường khoa học công nghệ. Nguyên nhân do đâu?

Bộ trưởng Nguyễn Quân cho biết thị trường khoa học công nghệ phát triển muộn nhất trong thị trường kinh tế Việt Nam. Các thị trường khác như thị trường vốn, tiền tệ... đã phát triển 20 năm qua trong khi thị trường khoa học công nghệ mới bắt đầu từ năm 2000, dù đã được manh nha từ thời kỳ đổi mới.

Năm 2004, Thủ tướng đã có quyết định phát triển thị trường này, năm 2014, Thủ tướng tiếp tục ban hành quyết định tiếp tục thúc đẩy phát triển khoa học công nghệ. Thị trường có 4 yếu tố nhưng mới chỉ quan tâm đến hai nguồn là nguồn cung và nguồn cầu. Nguồn cung của các Viện nghiên cứu, các nhà khoa học, còn nguồn cầu là các doanh nghiệp. Còn 2 yếu tố nữa chưa được quan tâm thỏa đáng là định chế trung gian và môi trường pháp lý.

Những năm gần đây, môi trường pháp lý trong môi trường khoa học công nghệ đã được cải thiện, Bộ đã quan tâm xây dựng thể chế, các đạo luật trình lên Quốc hội. Các định chế trung gian hiện rất yếu kém vì các tổ chức làm dịch vụ, môi giới, tư vấn, đánh giá, định giá, kiểm tra, kiểm định còn thiếu. Vì vậy các nhà khoa học không tìm được các địa chỉ ứng dụng, còn các doanh nghiệp lại đi tìm kiếm sản phẩm nhập khẩu từ nước ngoài.

Giải pháp mà Bộ Khoa học Công nghệ nêu ra là lập các sàn giao dịch công nghệ ở Hà Nội, Hải Phòng, Đà Nẵng,...  và đưa vào hoạt động. Các chợ công nghệ thiết bị quốc tế, quốc gia, khu vực được tổ chức, qua đó các nhà khoa học ký được nhiều hợp đồng chuyển giao công nghệ. Các sự kiện kết nối cung cầu ở các địa phương để các nhà khoa học giới thiệu sản phẩm của mình. 
Minh Quân