Riêng tháng 3/2026 ước đạt 3,49 triệu tấn, tương đương 128,34 triệu USD, giá trung bình 36,8 USD/tấn, tăng 25,08% về lượng, tăng 27,98% kim ngạch và tăng 2,31% về giá so với tháng 2/2026; So với tháng 3/2025 cũng tăng 15,45 % về lượng, tăng 14,57% kim ngạch nhưng giảm 0,76% về giá.
Xi măng, clinker xuất khẩu nhiều nhất sang thị trường Philippines chiếm 8,02% trong tổng lượng và chiếm 8,78% trong tổng kim ngạch xuất khẩu nhóm hàng này của cả nước, đạt 801.232 tấn, tương đương gần 31,58 triệu USD, giá trung bình 39,4 USD/tấn, giảm mạnh 61,43% về lượng, giảm 58,45% về kim ngạch nhưng tăng 7,73% về giá so với quý I/2025. Riêng tháng 3/2026 xuất khẩu sang Philippines 281.042 tấn xi măng, clinker, tương đương 10,96 triệu USD, giá 39 USD/tấn, tăng 23,56% về lượng, tăng 23,02% về kim ngạch nhưng giảm 0,43% về giá so với tháng 2/2026; So với tháng 3/2025 thì giảm mạnh 63,82% về lượng, giảm 61,95% về kim ngạch nhưng tăng 5,18% về giá.
Đứng thứ 2 là thị trường Bangladesh đạt 903.177 triệu tấn xi măng, clinker, thu về 29,61 triệu USD, giá 32,8 USD/tấn, giảm 44,96% về lượng và giảm 40% về kim ngạch nhưng tăng 8,94% về giá so với quý I/2025; xuất khẩu sang thị trường Malaysia 487.121 triệu tấn, tương đương 17,42 triệu USD, giá 35,8 USD/tấn, tăng 29,35% về lượng, tăng 40,79% về kim ngạch, và tăng 8,83% về giá; xuất khẩu sang Đài Loan 280.110 triệu tấn, tương đương 10,02 triệu USD, giảm 9,9% về lượng, giảm 15,29% về kim ngạch và giảm 5,99% về giá so với quý I/2025.
Xuất khẩu xi măng, clinker quý I/2026
(Tính toán từ số liệu công bố ngày 10/4/2026 của CHQ)