Khan hiếm nguồn cung từ các nước sản xuất khác do sản lượng kém đã đẩy xuất khẩu thì là của Ấn Độ tăng lên mức cao kỷ lục.
Trong giai đoạn tháng 4/2008 – tháng 2/2009, Ấn Độ đặt mục tiêu xuất khẩu 3.000 tấn thì là, trị giá 48 triệu Rupi.
Tổng xuất khẩu trong 11 tháng nói trên đạt 31.000 tấn, trị giá 32,33 triệu Rupi, so với mục tiêu 28.000 tấn, trị giá 27,5 triệu Rupi.
Giá thì là trung bình giảm xuống 104,30 Rupi/kg so với 105,22 Rupi/kg cùng kỳ năm ngoái. Xuất khẩu trong cùng kỳ năm ngoái đạt 23.265 tấn, trị giá 24,48 triệu Rupi.
Năm 2007, tình hình cũng diễn ra tương tự, đẩy giá lên 105,2 Rupi/kg giai đoạn tháng 4/2008 – tháng 2/2009. Tuy nhiên, trong cùng kỳ niên vụ 2008/09, giá đã giảm mạnh xuống 104,30 Rupi/kg.
Tại Ấn Độ, sản lượng giảm ở các bang Rajasthan và Gujarat là nguyên nhân chính khiến sản lượng năm 2009 giảm. Trong khi đó, lượng dự trữ của các thương gia cũng như ở các sàn giao dịch không còn nhiều, mà nhu cầu trên thị trường nội địa lại rất mạnh. Ấn Độ xuất khẩu thì là chủ yếu dưới dạng bột và tinh dầu. Những thị trường nhập khẩu thì là chính của Ấn Độ là Mỹ, Singapore, Nhật Bản, Anh, Tây Á và các nước vùng Vịnh.
Tổng nhu cầu nhập khẩu thì là toàn cầu năm nay ước khoảng 50.000 tấn.
Trong khi những nước trồng thì là chính như Syri, Thổ Nhĩ Kỳ và Iran, nơi xuất khẩu thường chiếm gần 90% sản lượng, sẽ sản xuất khoảng 1,5 – 2 triệu tấn thì là. Nhu cầu nội địa của những nước này năm nay sẽ vào khoảng 1,6 – 1,9 triệu tấn.
Theo nguồn tin trong ngành, sản lượng của Syri vào khoảng 7.000 tấn, thấp hơn mức 17.000 – 18.000 tấn dự báo ban đầu. Sản lượng của Trung Quốc cũng sẽ giảm sút do hạn hán.