Tại Đồng bằng sông Cửu Long, hoạt động thu mua lúa những ngày gần đây diễn ra khá chậm, trong khi nguồn cung lúa hè thu cuối vụ không còn dồi dào. Theo cập nhật từ Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh An Giang, giá lúa tươi ngày 17/9 giảm khoảng 200 đồng/kg ở nhiều chủng loại.
Cụ thể, lúa OM 18 được thu mua ở mức 6.000 - 6.200 đồng/kg; Đài Thơm 8 ở mức 6.100 - 6.200 đồng/kg; OM 5451 và IR 50404 cùng dao động 5.800 - 6.000 đồng/kg. Lúa OM 34 có giá 5.600 - 5.700 đồng/kg.
Tại An Giang, giá lúa tươi nhìn chung ổn định sau điều chỉnh, trong khi giao dịch tại Cà Mau, Đồng Tháp, Tây Ninh, Cần Thơ và Vĩnh Long chưa thực sự sôi động. Lực mua mới tại ruộng chưa mạnh khiến giá có xu hướng hạ nhiệt, song nguồn cung cuối vụ được thu hẹp phần nào giúp thị trường duy trì trạng thái cân bằng.
Giá gạo nguyên liệu và phụ phẩm
Trái với diễn biến của lúa tươi, giá gạo nguyên liệu xuất khẩu tại các nhà máy trong khu vực vẫn tương đối ổn định. Gạo OM 5451 dao động 9.300 - 9.400 đồng/kg; Đài Thơm 8 ở mức 9.200 - 9.400 đồng/kg; CL 555 đạt 8.850 - 8.900 đồng/kg; OM 18 ở mức 8.700 - 8.850 đồng/kg.
Gạo IR 504 dao động 8.800 - 8.900 đồng/kg, trong khi OM 380 và Sóc thơm cùng ở mức 7.500 - 7.600 đồng/kg.
Ở nhóm phụ phẩm, cám khô giữ giá 7.350 - 7.700 đồng/kg. Riêng tấm thơm 3-4 tăng 200 đồng/kg, lên 8.500 - 8.600 đồng/kg.
Giá các mặt hàng nếp cũng không thay đổi đáng kể. Nếp 3 tháng khô đạt 9.600 - 9.700 đồng/kg, còn nếp IR 4625 tươi ở mức 7.300 - 7.500 đồng/kg.
Giá gạo bán lẻ ổn định
Trên thị trường bán lẻ, giá gạo tại các chợ dân sinh tiếp tục đi ngang. Gạo Nàng Nhen có mức giá cao nhất, khoảng 28.000 đồng/kg; Hương Lài và gạo Nhật cùng ở mức 22.000 đồng/kg. Gạo thơm Thái hạt dài dao động 20.000 - 22.000 đồng/kg, Nàng Hoa khoảng 21.000 đồng/kg.
Gạo Jasmine được bán với giá 17.000 - 18.000 đồng/kg; Đài Thơm và OM 18 cùng ở mức 15.500 - 16.500 đồng/kg. Gạo trắng thông dụng khoảng 16.000 đồng/kg, trong khi gạo thường dao động 13.500 - 15.000 đồng/kg. Gạo Sóc thường ở mức 15.000 - 16.000 đồng/kg và Sóc Thái khoảng 20.000 đồng/kg. 
Trên thị trường xuất khẩu, giá gạo Việt Nam có sự điều chỉnh giảm ở một số chủng loại. Theo Hiệp hội Lương thực Việt Nam (VFA), gạo thơm 5% tấm được chào bán ở mức 440 - 445 USD/tấn, giảm 5 USD/tấn so với đầu tuần. Giá gạo Jasmine giảm 2 USD/tấn, xuống 532 - 536 USD/tấn. Trong khi đó, gạo thơm 100% tấm giữ ở mức 367 - 371 USD/tấn.
Diễn biến giá tại một số nước xuất khẩu lớn trong khu vực cũng có sự phân hóa. Gạo 5% tấm của Thái Lan giảm 3 USD/tấn, xuống 476 - 480 USD/tấn; gạo 100% tấm giảm 6 USD/tấn, còn 368 - 372 USD/tấn.
Tại Ấn Độ, giá gạo 5% tấm tăng 3 USD/tấn lên 374 - 378 USD/tấn, trong khi gạo 100% tấm dao động 308 - 312 USD/tấn.
Việc giá chào bán gạo Việt Nam giảm ở một số phân khúc cho thấy cạnh tranh trên thị trường xuất khẩu vẫn khá rõ nét, đặc biệt đối với nhóm gạo phổ thông. Trong khi đó, nguồn cầu từ các thị trường truyền thống cùng nhu cầu thu mua nguyên liệu phục vụ các đơn hàng những tháng cuối năm sẽ tiếp tục là những yếu tố quan trọng đối với diễn biến giá lúa gạo trong thời gian tới.
Bảng giá lúa gạo ngày 16/9/2026

Mặt hàng

Giá ngày 17/9 (đồng/kg)

Thay đổi

Lúa tươi OM 18

6.000 - 6.200

-200

Lúa tươi Đài Thơm 8

6.100 - 6.200

-200

Lúa tươi OM 5451

5.800 - 6.000

-200

Lúa tươi IR 50404

5.800 - 6.000

-200

Lúa tươi OM 34

5.600 - 5.700

-300

Gạo nguyên liệu CL 555

8.850 - 8.900

Ổn định

Gạo nguyên liệu IR 504

8.800 - 8.900

Ổn định

Gạo nguyên liệu OM 5451

9.300 - 9.400

Ổn định

Gạo nguyên liệu OM 18

8.700 - 8.850

Ổn định

Gạo nguyên liệu Đài Thơm 8

9.200 - 9.400

Ổn định

Gạo nguyên liệu OM 380

7.500 - 7.600

Ổn định

Gạo nguyên liệu Sóc thơm

7.500 - 7.600

Ổn định

Nguồn: Vinanet/VITIC