Tại các tỉnh ĐBSCL, giao dịch lúa diễn ra khá trầm lắng. Nhu cầu mua mới chưa cao khiến thương lái chủ yếu thu mua cầm chừng, qua đó khiến mặt bằng giá lúa ít biến động.
Tại Đồng Tháp, hoạt động mua bán chậm, giá lúa nhìn chung giữ vững. Tại An Giang, lượng thương lái hỏi mua mới không nhiều nên giá lúa tươi chỉ dao động nhẹ. Trong khi đó, tại Cần Thơ, Cà Mau, Vĩnh Long và Tây Ninh, giá lúa tương đối ổn định.
Mặt bằng giá lúa tươi ngày 22/8 không thay đổi so với hôm trước. Lúa IR 50404 được giao dịch ở mức 6.400-6.500 đồng/kg; OM 34 ở mức 6.100-6.200 đồng/kg; OM 5451 đạt 6.600-6.700 đồng/kg. Đài Thơm 8 dao động 6.900-7.000 đồng/kg, trong khi OM 18 ở mức 6.800-7.000 đồng/kg.
Ở phân khúc nếp, giá cũng giữ ổn định. Nếp IR 4625 tươi được thu mua với giá 7.300-7.500 đồng/kg, còn nếp 3 tháng khô ở mức 9.600-9.700 đồng/kg.
Gạo nguyên liệu tiếp tục giảm
Trái với diễn biến ổn định của mặt hàng lúa, giá một số loại gạo nguyên liệu xuất khẩu tiếp tục đi xuống và ghi nhận phiên giảm thứ ba liên tiếp.
Gạo nguyên liệu IR 504 giảm 100 đồng/kg, xuống còn 9.600-9.700 đồng/kg. Gạo nguyên liệu CL 555 giảm mạnh hơn, 150 đồng/kg, xuống 9.600-9.700 đồng/kg. Các loại gạo nguyên liệu khác chưa ghi nhận biến động đáng kể: OM 5451 ở mức 9.300-9.400 đồng/kg; OM 18 ở mức 8.700-8.850 đồng/kg; Đài Thơm 8 đạt 9.200-9.400 đồng/kg.
Gạo nguyên liệu OM 380 và Sóc thơm cùng được giao dịch ở mức 7.500-7.600 đồng/kg.
Diễn biến giảm tại phân khúc gạo nguyên liệu cho thấy sức mua trên thị trường đang tương đối yếu, trong khi hoạt động thu mua phục vụ chế biến và xuất khẩu chưa tạo được lực đẩy đủ mạnh để hỗ trợ giá.
Đối với phụ phẩm, giá cũng điều chỉnh giảm. Tấm thơm giảm 50 đồng/kg, xuống 8.700-8.800 đồng/kg; cám giảm 100 đồng/kg, còn 7.350-7.550 đồng/kg.
Trong khi đó, giá gạo bán lẻ tại các chợ dân sinh tiếp tục ổn định. Gạo Nàng Nhen có giá cao nhất, ở mức 28.000 đồng/kg; Hương Lài và gạo Nhật cùng ở mức 22.000 đồng/kg. Gạo thơm Thái hạt dài dao động 20.000-22.000 đồng/kg, gạo Nàng Hoa 21.000 đồng/kg và gạo Sóc Thái 20.000 đồng/kg.
Các loại gạo phổ biến như Jasmine, gạo trắng thông dụng, Đài Thơm, OM 18, Sóc thường và gạo thường lần lượt dao động trong khoảng 13.500-17.000 đồng/kg tùy chủng loại.
Giá gạo xuất khẩu Việt Nam đi ngang
Trên thị trường xuất khẩu, giá gạo Việt Nam ngày 22/8 không thay đổi so với phiên trước.
Theo Hiệp hội Lương thực Việt Nam, gạo thơm 5% tấm của Việt Nam được chào bán ở mức 500-505 USD/tấn; gạo thơm 100% tấm ở mức 370-374 USD/tấn; gạo Jasmine đạt 538-542 USD/tấn.
So với các nước xuất khẩu lớn trong khu vực, giá gạo Việt Nam tiếp tục duy trì lợi thế ở một số phân khúc gạo thơm. Trong khi đó, gạo 5% tấm của Thái Lan được giao dịch ở mức 450-454 USD/tấn, còn gạo 100% tấm ở mức 374-378 USD/tấn.
Tại Ấn Độ, gạo 5% tấm có giá 360-364 USD/tấn và gạo 100% tấm ở mức 292-296 USD/tấn.
Như vậy, mặt bằng giá xuất khẩu nhìn chung chưa có biến động đáng kể, trong khi thị trường nội địa đang phân hóa rõ giữa lúa và gạo nguyên liệu.
Theo số liệu của Cục Hải quan, trong nửa đầu tháng 8/2026, Việt Nam xuất khẩu 230.273 tấn gạo. Lũy kế từ đầu năm đến ngày 15/8, tổng lượng gạo xuất khẩu đạt khoảng 5,73 triệu tấn.
Kết quả này cho thấy hoạt động xuất khẩu vẫn duy trì ở quy mô lớn. Tuy nhiên, diễn biến giá gạo nguyên liệu trong nước những ngày gần đây cho thấy sức mua tại khâu thu mua nguyên liệu chưa thực sự mạnh, qua đó tạo áp lực nhất định lên giá. 
Bên cạnh diễn biến thị trường, ngành lúa gạo ĐBSCL đang tiếp tục tập trung vào việc phát triển các giống lúa thích ứng với điều kiện sản xuất ngày càng thay đổi.
Ngày 21/8, Viện Nghiên cứu Nông nghiệp Công nghệ cao ĐBSCL tổ chức hội thảo tại Cần Thơ nhằm đánh giá các nhóm giống có khả năng thích ứng với phèn, mặn và hạn, đồng thời giới thiệu các giống lúa đột biến và lúa nếp.
Một số giống như HATRI 190, HATRI 60 và HATRI 55 bước đầu cho kết quả tích cực trong khảo nghiệm, với năng suất có thể đạt khoảng 10 tấn/ha trong vụ đông xuân và 8 tấn/ha trong vụ hè thu.
Viện cũng đang nghiên cứu các giống lúa phát thải thấp phục vụ Đề án 1 triệu ha lúa chất lượng cao, trong đó HATRI 88, HATRI 78 và HATRI 25 được đánh giá có triển vọng. Các giống này vẫn cần tiếp tục khảo nghiệm, đánh giá khả năng thích nghi trước khi mở rộng sản xuất.
Việc phát triển giống mới có khả năng chống chịu sâu bệnh, thích ứng với phèn, mặn, hạn và giảm phát thải được kỳ vọng sẽ góp phần nâng cao năng suất, chất lượng và tính bền vững của ngành lúa gạo ĐBSCL.
Nhìn chung, ngày 22/8, thị trường lúa gạo trong nước tiếp tục phân hóa: giá lúa tươi đi ngang do nhu cầu thu mua chậm, trong khi giá gạo nguyên liệu xuất khẩu giảm phiên thứ ba liên tiếp. Trên thị trường quốc tế, giá gạo xuất khẩu Việt Nam ổn định, trong bối cảnh xuất khẩu vẫn duy trì khối lượng lớn.
Bảng giá lúa gạo tại ĐBSCL ngày 22/8/2026

Chủng loại

Giá ngày 21/8 (đồng/kg)

Giá ngày 22/8 (đồng/kg)

Lúa IR 50404 (tươi)

6.400-6.500

6.400-6.500

Lúa OM 34 (tươi)

6.100-6.200

6.100-6.200

Lúa OM 5451 (tươi)

6.600-6.700

6.600-6.700

Lúa Đài Thơm 8 (tươi)

6.900-7.000

6.900-7.000

Lúa OM 18 (tươi)

6.800-7.000

6.800-7.000

Nếp IR 4625 (tươi)

7.300-7.500

7.300-7.500

Nếp 3 tháng (khô)

9.600-9.700

9.600-9.700

Gạo nguyên liệu IR 504

9.700-9.800

9.600-9.700

Gạo nguyên liệu CL 555

9.750-9.850

9.600-9.700

Gạo nguyên liệu OM 5451

9.300-9.400

9.300-9.400

Gạo nguyên liệu OM 18

8.700-8.850

8.700-8.850

Gạo nguyên liệu Đài Thơm 8

9.200-9.400

9.200-9.400

Gạo nguyên liệu OM 380

7.500-7.600

7.500-7.600

Gạo nguyên liệu Sóc thơm

7.500-7.600

7.500-7.600

Tấm thơm

8.750-8.850

8.700-8.800

Cám

7.450-7.650

7.350-7.550

Nguồn: Vinanet/VITIC