Cơ cấu thị trường xuất khẩu sang EU vẫn tập trung cao vào Hà Lan, Đức và Pháp. Trong 7 tháng đầu năm 2026, Hà Lan đạt khoảng 254,07 triệu USD, tăng 23,5% và chiếm 53,0% tổng kim ngạch xuất khẩu rau quả của Việt Nam sang EU; Đức đạt 134,69 triệu USD, tăng 41,1%, chiếm 27,1%; Pháp đạt 68,79 triệu USD, tăng 46,3%, chiếm 14,1%. Ba thị trường này chiếm khoảng 94,2% tổng kim ngạch, cho thấy EU hiện vẫn phụ thuộc khá lớn vào một số đầu mối thị trường đối với rau quả Việt Nam.
Thị trường xuất khẩu rau quả của Việt Nam sang các thành viên Hiệp định EVFTA trong tháng 7 và 7 tháng 2026

VITIC tính toán từ số liệu Hải quan Việt Nam

Về cơ cấu sản phẩm, xuất khẩu sang EU tập trung vào một số mặt hàng như chanh leo, xoài, dừa và các sản phẩm rau quả nhiệt đới khác. Việc tập trung vào nhóm sản phẩm có giá trị cao và khả năng bảo quản tương đối tốt tạo điều kiện thuận lợi cho doanh nghiệp mở rộng thị trường, nhưng đồng thời đặt ra yêu cầu tiếp tục đa dạng hóa sản phẩm và nâng cao tỷ trọng chế biến.
EVFTA tạo điều kiện thuận lợi về tiếp cận thị trường và thuế quan cho hàng hóa Việt Nam, trong đó nhiều sản phẩm rau quả được hưởng ưu đãi theo lộ trình cam kết. Tuy nhiên, kết quả xuất khẩu trong từng năm còn chịu tác động đồng thời của nhu cầu thị trường, nguồn cung, giá cả, chi phí logistics, năng lực đáp ứng tiêu chuẩn và cạnh tranh từ các nguồn cung khác.
Đối với rau quả tươi, các yêu cầu về an toàn thực phẩm, dư lượng thuốc bảo vệ thực vật, kiểm dịch thực vật, chất lượng, ghi nhãn và truy xuất nguồn gốc tiếp tục là những điều kiện quan trọng để duy trì thị trường EU. Bên cạnh đó, việc PPWR bắt đầu áp dụng từ ngày 12/8/2026 làm gia tăng yêu cầu đối với doanh nghiệp trong việc rà soát vật liệu và thiết kế bao bì, đặc biệt đối với một số loại rau quả tươi đóng gói.

Trong thời gian tới, xuất khẩu rau quả sang EU còn dư địa mở rộng, nhất là tại các thị trường có tốc độ tăng trưởng tốt như Đức, Pháp và một số thị trường quy mô nhỏ. Tuy nhiên, để tận dụng hiệu quả EVFTA, doanh nghiệp cần chuyển trọng tâm từ lợi thế thuế quan sang nâng cao chất lượng, kiểm soát dư lượng, bảo đảm kiểm dịch thực vật, tăng khả năng truy xuất, phát triển sản phẩm chế biến và đa dạng hóa thị trường.

Nhìn chung, EVFTA tạo nền tảng thuận lợi cho doanh nghiệp Việt Nam mở rộng xuất khẩu rau quả vào EU, nhưng hiệu quả tận dụng Hiệp định trong thời gian tới sẽ phụ thuộc ngày càng nhiều vào khả năng đáp ứng các tiêu chuẩn kỹ thuật, kiểm soát chất lượng, truy xuất nguồn gốc, phát triển sản phẩm chế biến và đa dạng hóa thị trường.

Nguồn: Vinanet/VITIC