Tính chung 7 tháng năm 2026, xuất khẩu sắt thép của Việt Nam đạt 6,7 triệu tấn, trị giá 4,55 tỷ USD, tăng 4,2% về lượng và tăng 7,4% về trị giá so với cùng kỳ năm 2025. Giá thép xuất khẩu trung bình của Việt Nam 7 tháng năm 2026 đạt 679 USD/tấn, tăng 3,16% so với cùng kỳ năm 2025.
Cơ cấu thị trường xuất khẩu sắt thép của Việt Nam trong 7 tháng năm 2026 tiếp tục có sự phân hóa rõ nét. ASEAN là thị trường xuất khẩu sắt thép lớn nhất của Việt Nam, tiếp đến là EU, Hoa Kỳ, Brazil và Ấn Độ. Lượng sắt thép xuất khẩu của Việt Nam sang năm thị trường ASEAN, EU, Hoa Kỳ, Brazil và Ấn Độ chiếm 76,79% tổng lượng sắt thép xuất khẩu của Việt Nam, cho thấy hoạt động xuất khẩu vẫn tập trung tương đối cao vào một số thị trường chủ lực. Tuy nhiên, cơ cấu thị trường đang có sự chuyển dịch đáng chú ý. Trong khi ASEAN và EU tiếp tục duy trì vai trò là hai khu vực xuất khẩu chủ lực thì Brazil và Hoa Kỳ nổi lên là những thị trường có mức tăng trưởng tích cực, góp phần mở rộng động lực tăng trưởng và đa dạng hóa thị trường xuất khẩu sắt thép của Việt Nam.

VITIC tính toán từ nguồn số liệu thống kê sơ bộ của Cục Hải quan

ASEAN tiếp tục là thị trường xuất khẩu sắt thép lớn nhất của Việt Nam trong 7 tháng năm 2026, chiếm 31,33% tỷ trọng trong tổng lượng thép xuất khẩu của Việt Nam. Xuất khẩu sắt thép của Việt Nam sang thị trường ASEAN 7 tháng năm 2026 đạt 2,1 triệu tấn, trị giá 1,31 tỷ USD, tăng 5,75% về lượng và tăng 8,47% về trị giá so với cùng kỳ năm 2025. ASEAN vẫn giữ vai trò quan trọng, là thị trường tiêu thụ tương đối ổn định đối với sản phẩm thép của Việt Nam. Giá sắt thép xuất khẩu bình quân của Việt Nam sang ASEAN 7 tháng năm 2026 đạt 624 USD/tấn, thấp hơn mức bình quân chung 679 USD/tấn, cho thấy cơ cấu xuất khẩu vào khu vực này vẫn tập trung tương đối lớn vào các sản phẩm thép phổ thông.
EU là thị trường xuất khẩu sắt thép lớn thứ hai của Việt Nam trong 7 tháng năm 2026, với 1,17 triệu tấn, kim ngạch đạt 756,4 triệu USD, giảm 12,51% về lượng và giảm 16,42% về trị giá so với cùng kỳ năm 2025. Giá sắt thép xuất khẩu bình quân của Việt Nam sang EU 7 tháng năm 2026 đạt 645 USD/tấn, giảm 4,47% so với cùng kỳ năm 2025.
Bên cạnh các thị trường xuất khẩu chủ lực, trong 7 tháng năm 2026, một số thị trường mới và thị trường ngách tiếp tục ghi nhận mức tăng trưởng tích cực, góp phần mở rộng không gian thị trường và đa dạng hóa hoạt động xuất khẩu thép của Việt Nam, nổi bật là Thổ Nhĩ Kỳ, Nhật Bản, Nga và Các Tiểu vương quốc Ả Rập Thống nhất (UAE). Các thị trường mới và thị trường ngách đang cho thấy dư địa nhất định trong việc mở rộng và đa dạng hóa thị trường xuất khẩu thép của Việt Nam. Tuy nhiên, quy mô tại một số thị trường còn nhỏ và tốc độ tăng trưởng chưa thực sự ổn định. Vì vậy, trong thời gian tới, cần kết hợp mở rộng thị trường với nâng cao chất lượng, đa dạng hóa sản phẩm và tăng cường xúc tiến thương mại, qua đó từng bước hình thành các thị trường xuất khẩu mới có quy mô và tính ổn định cao hơn.

Nguồn: Vinanet/VITIC