Về xuất khẩu:
Kim ngạch xuất khẩu (KNXK) tháng 7/2009 ước đạt 4,75 tỷ USD, tăng 0,27% so với tháng 6/2009 nhưng giảm 28,1% so với tháng 7/2008, trong đó, xuất khẩu của các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài đạt 1,98 tỷ USD, giảm 12,2%, doanh nghiệp trong nước đạt 2,75 tỷ USD, giảm 36,4% so với cùng kỳ. Tính chung 7 tháng ước đạt 32,35 tỷ USD, chỉ đạt 50,1% kế hoạch năm và giảm 13,4% so với cùng kỳ năm trước.
 
Nhóm hàng nông lâm thuỷ sản so với tháng 6/2009 có xu hướng tăng, trừ các mặt hàng rau quả, cà phê, gạo. Kim ngạch xuất khẩu mặt hàng cà phê và gạo giảm do lượng xuất khẩu hai mặt hàng này giảm 12,7% và 13,0%. Các mặt hàng có KNXK tăng do lượng xuất khẩu tăng như chè (tăng 4,5%) và gạo (tăng 4,4%). Mặt hàng cao su tăng 4,8% về lượng, nhưng giảm 43,2% về trị giá do giá bình quân của cao su giảm so với cùng kỳ (giảm khoảng 1.210 USD/tấn).
 
Kim ngạch xuất khẩu dầu thô giảm 11,5% so với tháng 6 do lượng xuất khẩu dầu thô giảm. So với cùng kỳ năm trước, kim ngạch xuất khẩu dầu thô giảm 44,8% do giá dầu thô giảm (giá bình quân của dầu thô giảm khoảng 440 USD/tấn) tương ứng giảm khoảng 3 tỷ USD.
 
Nhóm các mặt hàng công nghiệp chế biến tháng 7/2009 hầu hết tăng nhẹ so với tháng 6, trừ sản phẩm chất dẻo giảm 6,7%; gốm sứ giảm 0,8%; hàng điện tử và linh kiện máy tính giảm 0,2%; máy móc, thiết bị, dụng cụ, phụ tùng giảm 11,1%; dây điện và cáp điện giảm 8,7%. Tuy nhiên, tính chung 7 tháng 2009, các mặt hàng chủ yếu của nhóm đều giảm so với cùng kỳ, ngoại trừ đá quí và kim loại quí. Mặt hàng giảm mạnh nhất là chất dẻo nguyên liệu giảm 31,6%; mây, tre, cói và thảm giảm 22,6%; gốm, sứ giảm 27,8%; dây điện và cáp điện giảm 34,8%. Tính chung, KNXK nhóm hàng công nghiệp chế biến giảm 874 triệu USD.
 
Kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam vào một số khu vực và thị trường giảm, Châu Á giảm khoảng 19%, Châu Đại Dương giảm 46%, Hoa Kỳ giảm khoảng 6%, Nhật giảm khoảng 36,7%, Trung Quốc giảm khoảng 10,6%.
 
Nguyên nhân trực tiếp làm giảm kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam 7 tháng đầu năm vẫn là sự giảm giá của một số mặt hàng xuất khẩu chủ lực trên thị trường thế giới và sự thu hẹp của các thị trường xuất khẩu truyền thống do ảnh hưởng của khủng hoảng kinh tế.
 
Về nhập khẩu:
Kim ngạch nhập khẩu tháng 7/2009 ước đạt 6 tỷ USD, tăng 1,7% so với tháng 6 nhưng vẫn giảm 19,6% so với cùng kỳ năm trước.
 
So với tháng 6, kim ngạch nhập khẩu của nhóm hàng tiêu dùng tăng nhẹ, sữa và sản phẩm sữa tăng 1,7%; dầu mỡ động, thực vật tăng 6,4%; ô tô nguyên chiếc tăng 8,1%. Các mặt hàng nguyên liệu phục vụ sản xuất có xu hướng tăng, trừ mặt hàng thức ăn gia súc và nguyên liệu giảm 12,4%, đây là tín hiệu khả quan cho một số ngành sản xuất hàng xuất khẩu.
 
Tính chung 7 tháng 2009, kim ngạch nhập khẩu ước đạt 35,7 tỷ USD bằng 68,0% so với cùng kỳ năm trước, trong đó, kim ngạch nhập khẩu của các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài ước đạt 12,7 tỷ USD, giảm 22,9%, chiếm tỷ trọng 35,5%; các doanh nghiệp 100% vốn trong nước ước đạt 23,0 tỷ USD, giảm 36,17%, chiếm tỷ trọng 64,5%. Kim ngạch nhập khẩu từ các nước đối tác lớn ở Châu Á, Châu Âu giảm khoảng 20 - 50%.
 
Về cán cân thương mại:
Như vậy, tháng 7/2009 Việt Nam nhập siêu khoảng 1,25 tỷ USD, bằng 26,3% kim ngạch xuất khẩu; tính chung 7 tháng, nhập siêu ước 3,39 tỷ USD, bằng 10,5% kim ngạch xuất khẩu.
 
Nhìn chung, tình hình xuất nhập khẩu còn nhiều khó khăn, xuất khẩu hàng nông, lâm, thuỷ sản đã huy động gần như tối đa về lượng. Vì vậy, việc đẩy mạnh xuất khẩu trong những tháng tới sẽ tập trung ở nhóm công nghiệp chế biến. Nhập khẩu hàng hoá là nguyên liệu đầu vào cho sản xuất có dấu hiệu gia tăng, đây là triển vọng tốt cho các ngành sản xuất trong nước. Dự báo trong những tháng tới, tình hình xuất nhập khẩu sẽ dần được cải thiện do kinh tế thế giới có dấu hiệu phục hồi.
 
Về thị trường trong nước:
Do chính sách kích cầu đầu tư, kích cầu tiêu dùng của Chính phủ đã phát huy tác dụng, nhiều doanh nghiệp sản xuất kinh doanh đã tích cực cùng với Chính phủ tham gia thực hiện đồng bộ các giải pháp như giảm giá hàng hóa, nâng cao chất lượng dịch vụ bán hàng và dịch vụ sau bán hàng... nên nhu cầu các mặt hàng vật liệu xây dựng, máy móc thiết bị, hàng điện tử tăng; nhu cầu du lịch và dịch vụ cũng tăng do thời tiết mùa hè oi nóng.
 
Tuy nhiên, do giá cả các mặt hàng nông sản, thực phẩm tăng cao đã ảnh hưởng không ít đến việc tiêu thụ sản phẩm. Vì vậy, doanh thu bán lẻ hàng hóa và dịch vụ trong tháng 7 ước đạt 96,1 nghìn tỷ đồng, tăng 1,7% so với tháng 6, trong đó tăng cao nhất là ngành khách sạn, nhà hàng tăng 3,6%, sau đó là ngành du lịch tăng 2,1% và ngành dịch vụ tăng 2,6%. Tính chung 7 tháng đầu năm 2009, tổng mức bán lẻ hàng hóa và dịch vụ ước đạt 643,6 nghìn tỷ đồng, tăng 18,3% so với cùng kỳ, trong đó, dịch vụ đạt 59,5 nghìn tỷ đồng, tăng 24,0%; du lịch đạt 6,5 nghìn tỷ đồng, tăng 20,1%; khách sạn, nhà hàng đạt 73,5 nghìn tỷ đồng, tăng 17,9%; thương nghiệp đạt 504,1 nghìn tỷ đồng và tăng 17,7%. Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh đạt tốc độ tăng trưởng lần lượt là 16,1% và 18,4%.
 
Chỉ số giá tiêu dùng tháng 7 tiếp tục tăng 0,52% so với tháng 6 (trong đó, tăng cao nhất là nhóm phương tiện đi lại, bưu điện tăng 3,05% và nhóm nhà ở, vật liệu xây dựng tăng 1,89%) và tăng 3,22% so với tháng 12/2008. Nếu so với cùng kỳ 2008 thì chỉ số giá tiêu dùng 7 tháng tăng 9,25%.
 

Nguồn: Vinanet