VINANET - Gần như tất cả các thị trường hàng hóa từ dầu tới kim loại công nghiệp và thậm chí cà phê đã đóng cửa thấp hơn vào hôm thứ hai sau khi Bộ trưởng Tài chính Đức cảnh báo chống lại mong đợi một “giải pháp dứt khoát” cho các vấn đề nợ khổng lồ của Châu Âu từ hội nghị thượng đỉnh cuối tuần.

Các hàng hóa giảm cùng với cổ phiếu và đồng euro do nhiều nhà đầu tư hành đoọng giảm bớt rủi ro sau khi Bộ trưởng Tài chính Đức Wolfgang Schaeuble cho biết một “giải pháp dứt khoát” từ các nhà hoạch định chính sách Châu Âu sẽ có thể không xảy ra.

Niềm hy vọng này được nhen nhóm từ khi Thủ tướng Đức Angela Merkel và Tổng thống Pháp Nicolas Sarkozy trong tháng này đã hứa công bố một gói nợ khu vực đồng euro mới toàn diện vào ngày 23/10.

Lúa mì và ngô là hàng hóa duy nhất tăng giá và mức tăng của chúng là chút ít. Lúa mì đã tăng chỉ 0,2% ngay cả thời tiết khô tại các đồng bằng Hoa Kỳ đe dọa sản lượng lúa mì mùa đông năm 2012 và giá ngô chỉ tăng 0,1% do thất bại trong việc vượt qua mức kháng cự của biều đồ kỹ thuật.

Chỉ số của 19 hàng hoá Reuters-Jefferies CRB đã đóng cửa thấp hơn 0,826% sau khi kết thúc tuần trước với hai ngày tăng mạnh.

Schaeuble cho biết chính quyền Châu Âu sẽ không đưa ra kế hoạch cuối cùng tại hội nghị thượng đỉnh vào hôm chủ nhật tới. Lời cảnh báo của Bộ trưởng Tài chính Đức đẩy đồng euro xuống giá từ mức cao trong một tháng so với đồng đô la. Cổ phiếu của Hoa Kỳ sụt điểm mạnh nhất trong hai tuần.

Schaeuble cũng nói vào cuối tuần rằng chủ sở hữu trái phiếu tư nhân có thể phải chấp nhận tự nguyện bút toán giảm lớn hơn 21% như đã thỏa thuận vào cuối tháng 7 đối với các trái phiếu nợ của Hy Lạp. Hành động như vậy có thể gây tổn thương cho các ngân hàng Châu Âu.

Điều tương tự có thể nói nhiều thị trường hàng hóa định giá bằng đồng đô la có xu hướng giảm với đồng euro do những bất lợi từ thị trường nước ngoài.

Giá dầu Brent giảm gần 2% do những ý kiến của Bộ trưởng Tài chính Đức chỉ ra tiến trình giải quyết khủng hoảng nợ của Châu Âu có thể không đủ nhanh.

Phil Flynn, nhà phân tích tại PFGBest Research, Chicago nói “những lời bình luận của Đức kéo giá dầu và đồng euro xuống, tăng giá đồng đô la”. Dầu thô Hoa Kỳ giảm nhưng mức giảm của nó bị giới hạn bởi giao dịch liên quan tới sự mãn hạn của các lựa chọn và với sự thu hẹp của giá dầu thô Brent và dầu Hoa Kỳ.

Giá dầu thô Brent giao tháng 12 trên sàn ICE giảm 2,07 USD xuống mức 110,16 USD/thùng trong khi dầu thô Hoa Kỳ giao tháng 11 giảm 42 cent giao dịch ở mức 86,38 USD/thùng.

Triển vọng lờ mờ đối với nhu cầu hàng hóa và năng lượng Hoa Kỳ, một đánh giá sản xuất tại tiểu bang New York bị giảm trong tháng thứ 5 liên tiếp vào tháng 10 do những đơn đặt hàng mới không tăng và triển vọng suy yếu.

Sản lượng công nghiệp Hoa Kỳ tăng nhẹ trong tháng 9 được tăng cường bởi số liệu gần đây chỉ ra kinh tế Hoa Kỳ vẫn đang tăng trưởng mặc dù chậm.

Đồng đã tăng vào đầu phiên giao dịch, nhưng sau đó cảnh báo về việc giải quyết khủng hoảng nợ Châu Âu cũng làm tổn thương các kim loại công nghiệp.

Nhà phân tích Carl Firman tại VM Group cho biết bạn sẽ nhìn thấy rất nhiều biến động trên tất cả các tài sản trong vài tuần tới đến khi có cái gì đó sẽ thuyết phcụ các thị trường rằng khủng hoảng tại Châu Âu sẽ được giải quyết.

Vàng giảm cùng với các hàng hóa khác. Vàng giao ngay giảm 0,6% ở mức 1.668,90 USD/ounce, đã tăng lên mức 1.694,60 USD trước đó trong phiên này, đây là mức cao nhất từ 23/9.

Giá cà phê kỳ hạn cũng bị tụt xuống do tin tức mới về khủng hoảng nợ khu vực đồng euro. Cà phê kỳ hạn arabica giao tháng 12 trên sàn ICE giảm 5,55 cent hoặc 2,3% đóng cửa ở mức 2,34 USD/lb sau khi trước đó đạt mức cao nhất trong 3 tuần.

Bảng giá hàng hóa lúc 1945 GMT

Hàng hóa

ĐVT

 

 

 

 

Dầu thô WTI

USD/thùng

86,46

-0,33

-0,4%

-5,4%

Dầu thô Brent

 USD/thùng

110,04

-2,19

-2,0%

16,1%

Khí thiên nhiên

 USD/gallon

3,688

-0,015

-0,4%

-16,3%

 

 

 

 

 

 

Vàng giao ngay

 USD/ounce

1676,60

-6,40

-0,4%

18,0%

Vàng kỳ hạn

USD/ounce

1670,79

-7,74

-0,5%

17,7%

Đồng Mỹ

US cent/lb

337,80

-3,05

-0,9%

-24,0%

Đồng LME

USD/tấn

7494,85

-50,15

-0,7%

-21,9%

Dollar

 

77,138

0,515

0,7%

-2,4%

CRB

 

314,560

-2,620

-0,8%

-5,5%

 

 

 

 

 

 

Ngô Mỹ

 US cent/bushel

640,50

0,50

0,1%

1,8%

Đậu tương Mỹ

 US cent/bushel

1253,00

-17,00

-1,3%

-10,1%

Lúa mì Mỹ

US cent/bushel

624,25

1,50

0,2%

-21,4%

 

 

 

 

 

 

Cà phê Mỹ

 US cent/lb

234,00

-5,55

-2,3%

-2,7%

Cacao Mỹ

USD/tấn

2622,00

-49,00

-1,8%

-13,6%

Đường Mỹ

US cent/lb

27,79

-0,14

-0,5%

-13,5%

 

 

 

 

 

 

Bạc Mỹ

 USD/ounce

31,821

-0,352

-1,1%

2,9%

Bạch kim Mỹ

USD/ounce

1547,30

-2,20

-0,1%

-13,0%

Palladium Mỹ

USD/ounce

616,80

-3,75

-0,6%

-23,2%

Reuters