(VINANET) – Sau khi quay đầu giảm phiên cuối tuần, sáng nay 15/4 giá cà phê nhân xô các tỉnh Tây Nguyên tiếp tục giảm 100 đồng hoặc không đổi tùy vùng xuống 40.500-41.400 đồng/kg.
Giá cà phê trong nước sáng nay giảm nhẹ theo đà giảm của thị trường cà phê thế giới đêm qua.
Theo Vicofa ngành cà phê đang gặp những trở ngại về vấn đề tái canh, biến đổi khí hậu dẫn đến nạn khô hạn ở nhiều vùng cà phê. Bên cạnh đó là việc cạnh tranh từ Indonesia khi quốc gia này đang phục hồi các vườn cây cũ và Trung Quốc bắt đầu trồng cà phê khoảng 50.000 hecta.
Số diện tích trồng cà phê thực tế trên cả nước khoảng 570.000 hecta, trong đó Đăk Lăk có diện tích cà phê lớn nhất khoảng 200.099 hecta, tiếp đến là Lâm Đồng đạt 151.020 hecta, Đăk Nông 114.188 hecta.
Tại cảng TPHCM giá cà phê robusta theo giá FOB giảm tiếp 9 USD xuống 2.062 USD/tấn.
Tham khảo giá cà phê nhân xô tại Việt Nam
|
Thị trường
|
Đơn vị
|
Ngày 11/4
|
Ngày 12/4
|
Ngày 15/4
|
|
FOB (HCM)
|
USD/tấn
|
2.092
|
2.071
|
2.062
|
|
Đắc Lắc
|
VND/kg
|
41.800
|
41.400
|
41.300
|
|
Lâm Đồng
|
VND/kg
|
41.000
|
40.600
|
40.500
|
|
Gia Lai
|
VND/kg
|
41.800
|
41.400
|
41.400
|
Giá cà phê trên cả hai sàn NYSE Liffe và sàn ICE đêm qua có phiên tăng giảm trái chiều.
Tại thị trường London, giá cà phê robusta tiếp tục giảm với các mức giảm nhẹ chưa đến 0,5%. Kỳ hạn tháng 5 giảm nhiều nhất cũng chỉ 0,42%. Giá giảm dần qua các kỳ hạn tháng 7, tháng 9 và tháng 11 giảm ít nhất 0,19%. Giá cà phê tại các kỳ hạn xuống mức 2.132-2.134 USD/tấn.
Tại thị trường New York, giá cà phê arabica đảo chiều trở lại mức tăng tới 1,86% ở hầu hết các kỳ hạn. Riêng kỳ hạn tháng 5 tăng ít nhất với 1,78% lên 204,85 cent/lb. Mức giá cao nhất chốt phiên đêm qua tại 212,05 cent/lb ở kỳ hạn tháng 12.
Thị trường robusta những phiên vừa qua không đi theo sự dẫn dắt của thị trường arabica, mà có cách đi riêng. Nó không sụt mạnh khi tại thị trường New York sụt mạnh, cũng không tăng khi thị trường New York tăng cao, và gần đây nhất là một diễn biến trái chiều.
Theo ICO, xu hướng chung trên thị trường cà phê là các thị trường truyền thống giảm tổng mức tiêu thụ do tăng tiêu thụ trong nước xuất khẩu.
Tổng lượng xuất khẩu tháng 2 của Brazil đạt 9 triệu bao, tăng 4,3% so với cùng kỳ năm trước. Như vậy, tổng lượng xuất khẩu trong 5 tháng đầu tiên của niên vụ cà phê 2013-2014 đạt 42,7 triệu bao, giảm khoảng 6,6% so với cùng kỳ năm 2012-2013 .
Trong khi đó, tồn kho Robusta tại London tiếp tục giảm, từ 404.000 bao trong tháng 2 xuống 317.000 vào tháng 3. Tồn kho Arabica trên thị trường New York cũng giảm nhẹ, xuống còn 2,9 triệu bao.
|
Giá cà phê robusta tại London (Đơn vị tính: USD/tấn)
|
|
Kỳ hạn
|
Giá 
|
Thay đổi
|
% thay đổi
|
|
05/14
|
2132
|
-9
|
-0,42 %
|
|
07/14
|
2134
|
-8
|
-0,37 %
|
|
09/14
|
2132
|
-6
|
-0,28 %
|
|
11/14
|
2132
|
-4
|
-0,19 %
|
|
Giá cà phê arabica tại NewYork (Đơn vị tính: USD Cent/lb)
|
|
Kỳ hạn
|
Giá 
|
Thay đổi
|
% thay đổi
|
|
05/14
|
204,85
|
+3,65
|
+1,78 %
|
|
07/14
|
207,4
|
+3,85
|
+1,86 %
|
|
09/14
|
209,5
|
+3,9
|
+1,86 %
|
|
12/14
|
212,05
|
+3,95
|
+1,86 %
|
Hòa Phạm
Nguồn: Vinanet/Giacaphe.com