1. Tình hình thế giới:

Tổ chức Cà phê quốc tế (ICO) dự báo sản lượng cà phê toàn cầu niên vụ 2010/11 sẽ đạt mức 133 triệu bao, tăng 8,1% so với niên vụ trước. Trong tổng số 10 quốc gia xuất khẩu cà phê chính – chiếm 86% trong tổng sản lượng cà phê toàn cầu niên vụ

2010/11, có 8 quốc gia có sản lượng cà phê tăng so với niên vụ trước: Braxin (tăng 21,9% – đạt 48,1 triệu bao), Việt Nam (tăng 1,6% – đạt 18,5 triệu bao), Etiopia (tăng 7,5% – đạt 7,45 triệu bao), Mexico (tăng 4,8 % – đạt 4,4 triệu bao), Guatemala (tăng 4,3% – đạt 4 triệu bao), Honduras (tăng 7,1% – đạt 3,83 triệu bao) và Uganda (tăng 10,8% – đạt 3,1 triệu bao).

Trong khi đó, tại 2 quốc gia xuất khẩu cà phê lớn là Ấn Độ và Indonesia, sản lượng có xu hướng giảm. Sản lượng cà phê niên vụ 2010/11 của Indonesia ước giảm tới 25,3% so với niên vụ trước, chỉ đạt mức 8,5 triệu bao do điều kiện thời tiết ẩm ướt. Tại Ấn Độ, sản lượng ước giảm nhẹ 1,9% so với niên vụ trước, đạt 4,7 triệu bao.

Niên vụ cà phê 2011/12 đã bắt đầu tại một số nước xuất khẩu chính bao gồm Braxin, Ecuador, Papua New Gunia. Tại Braxin, mặc dù niên vụ 2011/12 là niên vụ thuộc chu kỳ cho sản lượng cà phê Arabica thấp, nhưng tổng sản lượng vẫn được kỳ vọng sẽ đạt mức 43 triệu bao. Những tiến bộ trong nông nghiệp có thể là yếu tố làm giảm sự khác biệt về sản lượng giữa các chu kỳ của cây cà phê Arabica tại Braxin.

Xuất khẩu cà phê toàn cầu trong tháng 3/2011 đạt mức kỷ lục 10,4 triệu bao, tăng 19,5% so với cùng kỳ năm trước. Tổng khối lượng xuất khẩu cà phê toàn cầu trong 6 tháng đầu niên vụ 2010/11 (tính từ tháng 10/2010 – tháng 3/2011) đạt 52,9 triệu bao, tăng 15,4 % so với cùng kỳ niên vụ trước. Xuất khẩu cà phê toàn cầu tăng trong giai đoạn này được đóng góp chủ yếu bởi mức tăng xuất khẩu cà phê Arabica với 35,7 triệu bao, tăng 19,6% so với cùng kỳ niên vụ trước. Xuất khẩu cà phê Robusta trong giai đoạn này đạt mức tăng 7,6% so với cùng kỳ niên vụ trước, đạt 17,2 triệu bao.

Trong  số các nước xuất khẩu  cà phê chính,  tổng lượng  xuất khẩu  trong  niên  vụ 2010/11  tăng  lên  đáng  kể  ở  Ethiopia  (+104%),  Ấn  Độ  (+65,5%),  Colombia  (+36,8%), Honduras (+31,9%), Peru (+27,9%), Braxin (+18,9%) và Việt Nam (+11,6%). Trong khi đó, xuất khẩu giảm ở Indonesia (-25,8%), Mexico (-18,7%), Uganda (-8,7%) và Guatemala (-3,6%).

Hoạt động xuất khẩu mạnh do mức giá cao hiện tại đã làm hạn chế việc bổ sung trở lại lượng dự trữ cà phê ở các quốc gia xuất khẩu. Thông tin được cung cấp bởi các thành viên của ICO cho thấy khối lượng dự trữ cà phê đầu niên vụ 2010/11 đạt khoảng 13 triệu bao, giảm 36,7% so với mức dự trữ đầu kỳ của niên vụ 2009/10. Mức tồn kho tại các nước nhập khẩu ước đạt khoảng 18,3 triệu bao ở vào thời điểm cuối tháng 12/2010.

Chỉ số giá tổng hợp trung bình tháng 4 của ICO tăng 3,1% so với tháng 3 và tăng 82,2% so với cùng kỳ năm 2010, đạt 231,24 US cents/lb. Đây cũng là mức giá trung bình tháng cao kỷ lục kể từ tháng 6/1997. Giá cà phê, đặc biệt là loại cà phê Arabica đã xác lập mức kỷ lục mới trong tháng 4, cụ thể: chủng loại Colombian Milds, Other Milds tiến tới mức cao nhất kể từ tháng 5/1997  và tháng 4/1977  trong khi giá cà phê chủng loại Brazillian Naturals đạt mức kỷ lục kể từ tháng 5/1986. Trong trường hợp của cà phê Robusta, mặc dù giá trong tháng 4 duy trì tương đối vững chắc nhưng mức giá trung bình của tháng 4 đã xuống thấp hơn so với tháng 3, đạt 117,37 US cents/lb so với mức 118,13 US cents/lb của tháng 3.

2. Tình hình trong nước:

Theo ước tính của ICO, sản lượng cà phê của nước ta trong niên vụ 2010/11 đạt khoảng 18,5 triệu bao, tăng 1,6% so với niên vụ trước. Yếu tố giá tăng cao trong thời gian dài vừa qua sẽ thúc đẩy nông dân đầu tư cho cây trồng nhiều hơn.

Theo số liệu thống kê của Tổng cục Hải quan, trong 4 tháng đầu năm nay nước ta đã xuất khẩu được 698,3 nghìn tấn cà phê, đạt giá trị 1,5 tỷ USD; tăng 47,5% về lượng và tăng gấp hơn 2 lần về giá trị (+128,9%) so với cùng kỳ năm ngoái. Bỉ và Hoa Kỳ là hai thị trường tiêu thụ cà phê lớn nhất của nước ta với thị phần lần lượt là 11,1% và 10,8%. Tiếp theo là các thị trường Đức, Italia và Tây Ban Nha. Dự báo xuất khẩu cà phê của năm 2011 sẽ đạt mức hơn 1,3 triệu tấn về lượng và hơn 3 tỷ USD về giá trị, tăng khoảng 1% so với  con số dự báo của tháng trước.

Dự báo xuất khẩu cà phê năm 2011

 

Thời

điểm

Khối lượng (tấn) (r=12,5%)

Kim ngạch (USD) (r=14,4%)

 

Thời

điểm

Khối lượng (tấn) (r=12,5%)

Kim ngạch (USD) (r=14,4%)

 

 

 

 

 

 

Tháng 1*

145.304

282.794.437

Tháng 7**

85.452

205.301.807

Tháng 2*

144.275

303.146.498

Tháng 8**

69.637

165.827.217

Tháng 3*

160.569

365.007.403

Tháng 9**

59.909

142.181.022

Tháng 4*

126.187

302.130.631

Tháng 10**

57.679

138.340.294

Tháng 5**

102.311

246.241.220

Tháng 11**

81.084

198.280.499

Tháng 6**

106.895

254.020.770

Tháng 12**

165.463

409.343.215

Cộng

 

 

 

1.304.764

3.012.615.013

Nguồn: Kết quả dự báo của Trung tâm Tin học và Thống kê

Ghi chú:  r-sai số dự báo; * Giá trị thực tế; ** Giá trị dự báo

Sự thiếu hụt về vốn và lãi suất vay vốn cao trong thời gian qua đã hạn chế khả năng dự trữ của các doanh nghiệp kinh doanh cà phê trong nước và giảm lượng cà phê tồn kho hiện nay.

Tại thị trường trong nước, trong tháng 5 này giá cà phê biến động giảm vào giai đoạn giữa tháng do đồng USD tăng giá làm các nhà đầu cơ đẩy mạnh bán ra và các thông tin có lợi cho nguồn cung. Tuy nhiên, đến ngày 26/5 giá cà phê nhân xô tại Đắk Lắk đã tăng 2.700 đồng/kg so với mức thấp nhất trong tháng của ngày 17/5, lên mức kỷ lục 51.200 đồng/kg do giá cà phê thế giới tăng mạnh. Giá cà phê xuất khẩu loại 2, 5% đen vỡ (FOB) ngày 26/5 đạt mức 2.555 USD/tấn, tăng 104 USD/tấn so với mức giá xuất khẩu hồi đầu tháng. Giá cà phê trong nước chủ yếu tăng theo đà tăng của giá cà phê thế giới. Dự báo giá cà phê nước ta sẽ tăng tiếp vì nguồn cung thế giới hạn hẹp trong khi dự trữ giảm và nhu cầu tăng cao, có thể đạt mức 55 – 60 triệu đồng/tấn trong năm nay.

Theo Báo cáo của Trung tâm tin học – thống kê, Bộ NN và PTNT