Nửa đầu tháng 4/2014, giá các mặt hàng thiết yếu trong nước có xu hướng giảm và ổn định. Giá các mặt hàng như giá thóc gạo tại miền Bắc, giá đường, phân bón, xi măng, thép và giá xăng ổn định. Riêng giá lúa gạo tại miền Nam và giá LPG, giá dầu giảm.

Thế giới

Trong 15 ngày đầu tháng 4/2014, giá một số mặt hàng thiết yếu trên thị trường thế giới có xu hướng giảm như: giá xăng dầu thành phẩm, giá phân bón ure, giá chào bán gạo xuất khẩu của Thái Lan và Việt Nam, giá khí hóa lỏng LPG; riêng giá dầu thô WTI tăng; giá thép ổn định. Cụ thể:

Tại Thái Lan, loại gạo 5% tấm giá trong khoảng 390-400USD/tấn, giảm 30USD/tấn; loại 25% tấm giá ở mức 355-365 USD/tấn, giảm 5 USD/tấn; giá chào bán gạo của Việt Nam, loại 5% tấm giá dao động phổ biến ở mức 380-390 USD/tấn, giảm khoảng 10 USD/tấn, loại 25% tấm dao động ở mức 350-365 USD/tấn, giảm khoảng 5 USD/tấn.

Tại New York, giá đường thô giao tháng 5/2014 khoảng 16,8 - 17,35 Uscent/Lb, giảm 0,68-1,02 Uscent/Lb; tại Luân Đôn, giá đường trắng giao tháng 5/2014 khoảng 436-463,9 USD/tấn, giảm khoảng 12,9-27,7 USD/tấn. Giá phân bón (giá FOB) trên hai thị trường Yuzhny và Baltic giảm từ 20-25 USD/tấn.

Giá chào phôi thép vào thị trường Đông Nam Á dao động ở mức 520-530 USD/tấn CFR. Từ ngày 01/04/2014, giá LPG (giá CP) là 807,5 USD/tấn, giảm 55 USD/tấn so với tháng 3/2014. Giá xăng dầu thành phẩm bình quân 15 ngày tháng 4/2014 giảm từ 0,4% đến 1,55% tùy từng chủng loại so với cùng kỳ tháng 3/2014 (riêng mặt hàng dầu thô WTI tăng 0,92%).

Trong nước :

Trong 15 ngày đầu tháng 4/2014, giá các mặt hàng thiết yếu trong nước có xu hướng giảm và ổn định. Giá các mặt hàng như giá thóc gạo tại miền Bắc, giá đường, phân bón, xi măng, thép và giá xăng ổn định. Riêng giá lúa gạo tại miền Nam và giá LPG, giá dầu giảm. Cụ thể:

Tại miền Bắc, giá thóc tẻ thường dao động phổ biến ở mức 6.000-8.500 đồng/kg, giá gạo tẻ thường dao động phổ biến ở mức 8.000-12.500 đồng/kg. Tại Nam Bộ, giá lúa dao động ở mức 5.000-5.750 đồng/kg, giảm khoảng 50 đồng/kg; gạo thành phẩm xuất khẩu loại 5% tấm giá trong khoảng 7.750-8.400 7.525-8.100đồng/kg, giảm khoảng 225-300 đồng/kg; loại 25% tấm giá khoảng 7.100-7.450 đồng/kg, giảm khoảng 150-200 đồng/kg.

Giá thực phẩm tươi sống 15 ngày đầu tháng 4/2014 có diễn biến trái chiều so với cùng kỳ: Thịt lợn hơi: miền Bắc giá phổ biến khoảng 43.000-45.000 đồng/kg, giảm 2.000-3.000 đồng/kg; miền Nam giá phổ biến khoảng 44.000-50.000 đồng/kg, tăng 3.000 đồng/kg. Thịt bò thăn ổn định: miền Bắc giá phổ biến khoảng 250.000-265.000 đồng/kg; miền Nam giá phổ biến khoảng 250.000-270.000 đồng/kg.

Giá một số loại rau củ quả giảm nhẹ so với cùng kỳ tháng 3/2014: bắp cải 10.000-15.000 đồng/kg, giảm 2.000-5.000 đồng/kg; khoai tây 15.000-17.000 đồng/kg, giảm 2.000-3.000 đồng/kg; cà chua 15.000-17.000 đồng/kg, giảm 3.000 đồng/kg. Giá một số mặt hàng thuỷ hải sản như cá, tôm… ổn định. Cụ thể: Cá chép 70.000-80.000 đồng/kg; tôm sú 180.000-185.000 đồng/kg; cá quả 110.000-120.000 đồng/kg.

Giá bán lẻ đường trên thị trường ổn định so với cùng kỳ tháng 3/2014, hiện phổ biến ở mức 18.000 đồng/kg - 21.000 đồng/kg. Giá urê tại miền Bắc, giá phổ biến khoảng 8.500-8.700 đồng/kg; tại miền Nam, mức giá phổ biến khoảng 8.400-8.700 đồng/kg.

Giá xi măng tại các nhà máy của Tổng Công ty Công nghiệp xi măng Việt Nam và giá bán lẻ xi măng ổn định: tại các tỉnh miền Bắc, miền Trung phổ biến từ 1.050.000 -1.500.000 đồng/tấn; tại các tỉnh miền Nam phổ biến từ 1.460.000-1.800.000 đồng/tấn.

Giá bán lẻ thép xây dựng ổn định, tại các tỉnh miền Bắc và miền Trung dao động từ 15.400 - 16.000 đồng/kg; tại các tỉnh Miền Nam từ 15.300 -15.900 đồng/kg. Giá bán LPG trong nước giảm khoảng từ 13.932 đồng/bình 12kg đến 16.736 đồng/bình 12kg tùy từng doanh nghiệp và tùy từng thương hiệu. Giá xăng giữ ổn định, giá các loại dầu (dầu hỏa, dầu điêzen và dầu ma dút) giảm tối thiểu từ 83-124 đồng/lít tùy từng chủng loại.

Giá bán vàng 99,99% tại các công ty kinh doanh vàng bạc Nhà nước tại Hà Nội và TP Hồ Chí Minh dao động lần lượt ở mức 3,545-3,542 triệu đồng/chỉ (đầu tháng), đến giữa tháng, giá vàng tăng nhẹ và dao động phổ biến ở mức 3,582-3,579 triệu đồng/chỉ, với cùng mức tăng là 37.000 đồng/chỉ.

Tỷ giá bình quân liên ngân hàng tiếp tục ổn định ở mức 21.036 đồng/USD. Tại ngân hàng thương mại, thị trường tiền tệ khá im ắng, không có sự thay đổi nhiều. Tỷ giá 15 ngày đầu tháng 4/2014 chủ yếu được niêm yết ở mức mua vào 21.075-21.080 đồng/USD và bán ra là: 21.115-21.120 đồng/USD.

Nguồn: Cục Quản lý giá, Bộ Tài chính

Nguồn: Vinanet