Năm 2010 được coi là năm thành công của cá ngừ Việt Nam. XK cá ngừ sang hầu hết các thị trường đều tăng trưởng mạnh cả về khối lượng và giá trị. Tính đến hết ngày 30/11/2010, Việt Nam đã XK gần 76.000 tấn cá ngừ, trị giá trên 265,7 triệu USD, tăng 49,5% về khối lượng và 62% về giá trị so với cùng kỳ năm 2009.
XK cá ngừ năm 2010
1. Kết quả
Năm 2010 được coi là năm thành công của cá ngừ Việt Nam. XK cá ngừ sang hầu hết các thị trường đều tăng trưởng mạnh cả về khối lượng và giá trị. Tính đến hết ngày 30/11/2010, Việt Nam đã XK gần 76.000 tấn cá ngừ, trị giá trên 265,7 triệu USD, tăng 49,5% về khối lượng và 62% về giá trị so với cùng kỳ năm 2009. Dự kiến, khối lượng XK cá ngừ của cả nước năm 2010 sẽ đạt khoảng 82,6 nghìn tấn, trị giá 287 triệu USD.
Nguyên nhân chính của sự tăng trưởng này là do giá XK trung bình cá ngừ cao, nhu cầu tiêu thụ tăng trong khi một số nước trên thế giới đang đề xuất cắt giảm hạn ngạch khai thác đối với một số loài cá ngừ.
Giá XK trung bình cao
Từ cuối năm 2009 đến nay, sản lượng khai thác cá ngừ tại Đông Tây Thái Bình Dương rất thấp trong khi nhu cầu tiêu thụ vẫn tăng đã đẩy giá XK cá ngừ thế giới nói chung và Việt Nam nói riêng lên khá cao. 11 tháng đầu năm 2010, giá XK trung bình cá ngừ của Việt Nam đạt 3,49 USD/kg, tăng 8% so với 3,23 USD/kg năm 2009.
Giá XK trung bình cá ngừ của Việt Nam sang các thị trường chính như Mỹ, EU và Nhật Bản đều ở mức cao, 4,41 USD/kg, 3,6 USD/kg và 4,78 USD/kg.
Nhu cầu tiêu thụ tăng
Sau khủng hoảng kinh tế toàn cầu, các nền kinh tế lớn nhất thế giới đã bắt đầu phục hồi, theo đó tâm lý tiêu dùng của người dân cũng dần thay đổi, sức mua thực phẩm (nhất là các thực phẩm “xa xỉ” như cá ngừ) ngày càng tăng.
Theo báo cáo của FAO, nhu cầu tiêu thụ thủy sản nói chung và cá ngừ nói riêng tại Châu Á và Châu Âu trong các năm tới sẽ tiếp tục tăng do dân số tăng, quá trình đô thị hóa nhanh cùng với nhận thức cao về lợi ích của thủy sản đối với sức khỏe người tiêu dùng.
Thị trường Mỹ: Cuối tháng 5, đầu tháng 6/2010, Mỹ đã “thế chân” EU, trở thành thị trường NK lớn và ổn định nhất của cá ngừ Việt Nam. Đến hết ngày 30/11/2010, Mỹ đã NK trên 27.000 tấn cá ngừ từ Việt Nam, trị giá trên 120 triệu USD, tăng 54,6% về khối lượng và 94,6% về giá trị so với cùng kỳ năm 2009.
Mặc dù nền kinh tế phục hồi chậm và đồng USD bất ổn so với các loại tiền tệ lớn khác nhưng không vì thế mà thị trường cá ngừ đóng hộp của Mỹ trở nên ảm đạm. Đến hết tháng 7/2010, Mỹ đã NK 134,886 tấn cá ngừ đóng hộp. Dự báo sắp tới, nhu cầu cá ngừ của thị trường này sẽ tiếp tục tăng.
Thị trường EU: Cá ngừ được xem là một trong những thực phẩm chủ lực tại các nước Châu Âu, đặc biệt là Italia, Đức và Bỉ. 11 tháng đầu năm 2010, EU đã NK trên 15.690 tấn cá ngừ Việt Nam, trị giá gần 57 triệu USD, tăng 3,9% về khối lượng và 12% về giá trị so với cùng kỳ năm ngoái.
Mới đây, EC đã đề xuất tăng giá khoảng 1 – 2% đối với cá song Tây Ban Nha và cá ngừ albacore nguyên con, đồng thời giảm khoảng 0,1 – 2% đối với cá trích, cá cơm và cá ngừ albacore moi ruột.
Các DN cho biết, EU thực sự là một thị trường lớn, đa dạng và có nhiều triển vọng cho cá ngừ Việt Nam. Tuy nhiên, để giữ được thị trường này và đáp ứng nhu cầu thủy sản “bền vững, tiện lợi và sức khỏe” của người tiêu dùng nơi đây, các DN cá ngừ cần có biện pháp đảm bảo chất lượng và duy trì hình ảnh cá ngừ Việt Nam trên thị trường này.
Thị trường Nhật Bản: Nhật Bản là thị trường tiêu thụ cá ngừ hàng đầu thế giới (chiếm khoảng 80% tổng sản lượng cá ngừ toàn cầu), bình quân 41 kg cá ngừ tươi và các sản phẩm từ cá ngừ/hộ gia đình/năm. Nhìn chung nhu cầu cá ngừ (nhất là cá ngừ vây xanh) để chế biến sushi và sashimi của thị trường Nhật Bản vẫn ở mức cao.
11 tháng đầu năm 2010, Nhật Bản đã NK trên 4.350 tấn cá ngừ từ Việt Nam, trị giá trên 20,8 triệu USD.
2. Khó khăn
Thiếu nguyên liệu
Năm 2010, nguồn nguyên liệu cá ngừ đạt tiêu chuẩn không đáp ứng đủ nhu cầu chế biến XK của DN do phần lớn sau khai thác, cá được bảo quản bằng kỹ thuật thô sơ. Do vậy, các DN XK cá ngừ buộc phải NK để giảm áp lực về nguồn nguyên liệu trong nước. Tuy nhiên, những thủ tục NK nguyên liệu cho chế biến lại quá phức tạp càng khiến các DN XK cá ngừ thêm “nản lòng”.
Khi NK nguyên liệu để chế biến, DN cá ngừ Việt Nam phải hoàn tất nhiều thủ tục và nhiều loại giấy tờ để gửi tới các cơ quan chức năng, trong khi, các nhà NK cá ngừ tại Thái Lan và Philippin được chính phủ nước họ tạo điều kiện thuận lợi nhất nhằm giảm sức ép về nguyên liệu. Nhiều nhà cung cấp chuyển sang hợp tác với các nhà NK Thái Lan, Philippin… do thủ tục mua bán đơn giản và không phải lo giấy tờ.
Khó cạnh tranh tại thị trường Nhật Bản
Ngày 01/10/2009, Hiệp định Đối tác kinh tế Việt-Nhật (VJEPA) chính thức có hiệu lực. Theo đó, trong vòng 10 năm kể từ khi Hiệp định có hiệu lực, Nhật Bản sẽ miễn thuế đối với 94% hàng hóa của Việt Nam XK vào thị trường này, đặc biệt là miễn thuế đối với 86% sản phẩm nông nghiệp (trong đó có thủy sản). Và khi VJEPA có hiệu lực, các DN có thể so sánh, lựa chọn biểu thuế giữa AJCEP (Hiệp định Đối tác kinh tế toàn diện ASEAN - Nhật Bản ký ngày 01/04/2008, có hiệu lực từ ngày 01/12/2008 đối với một số nước), thuế suất MFN và VJEPA để xin mức thuế suất thấp nhất.
Tuy nhiên, từ khi VJEPA có hiệu lực cho đến nay, nhiều DN cá ngừ vẫn lo lắng với mức thuế suất 7,2% - cao hơn rất nhiều (40%) so với các nước trong khu vực như Thái Lan, Philippin…. Do vậy, cá ngừ Việt nam rất khó cạnh tranh với các nước láng giềng tại thị trường này.
Quy định IUU
Theo Quy định 1005/2008 ngày 29/09/2008 của EC về thiết lập hệ thống kiểm soát nhằm phòng ngừa, ngăn chặn và xoá bỏ hoạt động khai thác thủy sản bất hợp pháp (khai thác IUU), mỗi lô hàng thủy sản XK sang EU nhất thiết phải có một Giấy chứng nhận khai thác.
Tuy nhiên, trong quá trình thực hiện vẫn còn nhiều “bất cập” nảy sinh. Để tránh thủ tục “rườm rà” này, nhiều ngư dân đã bán cá ngay tại tàu cho nậu vựa Trung Quốc với giá cao mà họ lại không yêu cầu chứng nhận. Cùng với đó, nhiều khách hàng EU cũng cầm chừng trong việc ký hợp đồng, thậm chí tạm thời ngừng NK hải sản trong giai đầu thực thi quy định về khai thác IUU này.
Xu hướng XK cá ngừ năm 2011
1. Nâng cao chất lượng và phát triển thương hiệu cá ngừ Việt Nam
Để đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của người tiêu dùng toàn cầu, ngoài việc đa dạng hóa sản phẩm, năm 2011 các DN Việt Nam sẽ chú trọng nâng cao chất lượng và phát triển thương hiệu riêng của cá ngừ Việt Nam.
Ngày 27/11/2010, Hiệp hội Cá ngừ Việt Nam đã chính thức được thành lập với 36 thành viên. Đây không chỉ là cầu nối giữa ngư dân với DN mà còn là nhân tố quan trọng thúc đẩy sự lớn mạnh của thương hiệu cá ngừ bền vững Việt Nam trên thị trường thế giới. Hiệp hội đề ra mục tiêu sản lượng khai thác cá ngừ đại dương năm 2011 là 15.000 tấn, tiêu thụ 120.000 tấn (gồm cả cá ngừ NK để chế biến) và năm 2015 là 30.000 tấn, tiêu thụ 200.000 tấn. Đồng thời phát triển nhanh đội tàu khai thác cá ngừ công nghiệp hiện đại và đạt tiêu chuẩn.
2. Tận dụng cơ hội từ việc cắt giảm hạn ngạch khai thác cá ngừ của một số nước
Tháng 11/2010, Ủy ban quốc tế về Bảo tồn Cá ngừ vây xanh Đại Tây Dương (ICCAT) đã nhất trí giảm khoảng 40% hạn ngạch khai thác năm 2011 đối với cá ngừ vây xanh tại Đông Đại Tây Dương từ 13.500 tấn xuống còn 6.000 tấn
Ngoài ra, một số nước thành viên trong Ủy ban Bảo tồn Cá ngừ vây xanh phương nam (CCSBT) cũng đề xuất giảm 20% hạn ngạch khai thác cá ngừ tại vùng này trong năm 2011 từ 11.810 tấn xuống còn 9.449 tấn.
Đây là cơ hội lớn để các DN đẩy mạnh XK và mở rộng thêm thị trường mới cho cá ngừ Việt Nam.
3. Dự báo
Trước những thuận lợi về thị trường và giá XK, dự báo XK cá ngừ của Việt Nam trong năm 2011 sẽ tiếp tục tăng và đạt giá trị khoảng 300 triệu USD.