Mỹ tiếp tục là thị trường xuất khẩu lớn nhất của nhóm hàng đá quý, kim loại quý trong 11 tháng năm 2025, đạt 238,26 triệu USD, chiếm tỷ trọng lớn 38,7% trong tổng kim ngạch xuất khẩu nhóm hàng này của cả nước, tuy nhiên giảm nhẹ 1,04% so với cùng kỳ năm trước; riêng tháng 11/2025 xuất khẩu sang thị trường này đạt 26,06 triệu USD, tăng 1,73% so với tháng 10/2025 và tăng 18,58% so với tháng 11/2024.
Xuất khẩu sang nhóm thị trường FTA RCEP trong 11 tháng năm 2025 đạt 157,04 triệu USD, tăng 8,96% so với cùng kỳ năm 2024; riêng tháng 11/2025 đạt 15,23 triệu USD, tăng 1,35% so với tháng trước nhưng giảm 8,37% so với cùng kỳ năm trước.
Xuất khẩu sang nhóm thị trường FTA CPTPP tăng trưởng khá, 11 tháng năm 2025 đạt 100,79 triệu USD, tăng 14,39% so với cùng kỳ năm trước; riêng tháng 11/2025 đạt 12,79 triệu USD, tăng mạnh 18,43% so với tháng 10/2025 và tăng 31,51% so với tháng 11/2024.
Đối với thị trường EU (FTA EVFTA), 11 tháng năm 2025 xuất khẩu đạt 96,83 triệu USD, tăng 12,76% so với cùng kỳ năm 2024; tuy nhiên riêng tháng 11/2025 đạt 10,02 triệu USD, giảm 2,79% so với tháng 10/2025 và giảm 8,49% so với tháng 11/2024.
Nhật Bản là thị trường có mức tăng trưởng cao, với kim ngạch xuất khẩu 11 tháng năm 2025 đạt 82,67 triệu USD, tăng 23,72% so với cùng kỳ; riêng tháng 11/2025 đạt 10,93 triệu USD, tăng 22,92% so với tháng trước và tăng mạnh 52,63% so với tháng 11/2024.
Một số thị trường EU khác cũng ghi nhận mức tăng trong 11 tháng năm 2025 như Bỉ đạt 48,09 triệu USD, tăng 9,55%; Pháp đạt 36,76 triệu USD, tăng 12,37%, mặc dù xuất khẩu trong tháng 11 sang các thị trường này có xu hướng giảm so với cùng kỳ.
Xuất khẩu sang Hồng Kông (Trung Quốc) trong 11 tháng đầu năm 2025 đạt 39,98 triệu USD, giảm 5,55% so với cùng kỳ năm trước; riêng tháng 11/2025 đạt 3,76 triệu USD, tăng 31,32% so với tháng trước nhưng giảm 24,08% so với tháng 11/2024.
Ngược lại, Hàn Quốc là thị trường có mức sụt giảm mạnh, với kim ngạch xuất khẩu 11 tháng năm 2025 đạt 36,10 triệu USD, giảm 23,8% so với cùng kỳ; riêng tháng 11/2025 đạt 1,38 triệu USD, giảm mạnh cả so với tháng trước (-54,77%) và cùng kỳ năm trước (-76,37%).
Xuất khẩu sang khu vực Đông Nam Á trong 11 tháng năm 2025 đạt 23,28 triệu USD, tăng mạnh 88,42% so với cùng kỳ, chủ yếu nhờ Thái Lan; riêng tháng 11/2025 đạt 1,34 triệu USD, giảm 17,03% so với tháng trước và giảm 6,24% so với cùng kỳ năm trước.
Nhìn chung, xuất khẩu đá quý và kim loại quý của Việt Nam trong năm 2025 duy trì được đà tăng trưởng, tuy nhiên tốc độ tăng còn ở mức vừa phải và chưa thực sự bền vững. Tăng trưởng chủ yếu đến từ các thị trường có Hiệp định thương mại tự do (FTA), đặc biệt là CPTPP, EVFTA và RCEP, trong khi xuất khẩu sang một số thị trường lớn truyền thống như Hoa Kỳ và Hàn Quốc có xu hướng tăng chậm hoặc sụt giảm.
Dự báo: Bước sang năm 2026, xuất khẩu nhóm hàng đá quý, kim loại quý được dự báo tiếp tục đối mặt với nhiều yếu tố đan xen, bao gồm cả thuận lợi và thách thức. Nhu cầu tiêu dùng trang sức và kim loại quý trên thị trường thế giới được kỳ vọng phục hồi tích cực hơn cùng với xu hướng ổn định kinh tế vĩ mô tại một số nền kinh tế lớn; tuy nhiên, biến động giá kim loại quý, chính sách tiền tệ toàn cầu và yêu cầu ngày càng cao về truy xuất nguồn gốc, phát triển bền vững sẽ tiếp tục tạo áp lực đối với hoạt động xuất khẩu.
Các thị trường có FTA với Việt Nam, đặc biệt là Nhật Bản, EU và các nước trong CPTPP, nhiều khả năng vẫn là động lực tăng trưởng chính trong năm 2026, nhờ lợi thế thuế quan và nhu cầu ổn định đối với các sản phẩm có giá trị gia tăng cao. Bên cạnh đó, khu vực Trung Đông và Đông Nam Á được đánh giá là những thị trường tiềm năng, có thể mở rộng quy mô xuất khẩu trong thời gian tới.
Tuy nhiên, xuất khẩu đá quý, kim loại quý của Việt Nam vẫn còn phụ thuộc lớn vào một số thị trường chủ lực, cơ cấu sản phẩm chưa đa dạng và giá trị gia tăng còn hạn chế. Do đó, trong năm 2026, doanh nghiệp cần đẩy mạnh đa dạng hóa thị trường, nâng cao chất lượng chế tác, đáp ứng các tiêu chuẩn về môi trường, lao động và truy xuất nguồn gốc, nhằm củng cố vị thế tại các thị trường cao cấp và giảm rủi ro từ biến động thị trường.
Dự báo, trong điều kiện thị trường thế giới không có biến động lớn, xuất khẩu đá quý và kim loại quý năm 2026 có khả năng tiếp tục tăng trưởng, nhưng tốc độ tăng được dự đoán ở mức thận trọng, phụ thuộc nhiều vào khả năng tận dụng FTA, ổn định nguồn nguyên liệu và năng lực thích ứng của doanh nghiệp trước các yêu cầu mới của thị trường quốc tế.
Bảng xuất khẩu đá quý, kim loại quý 11 tháng đầu năm 2025

(Tính toán theo số liệu công bố ngày 10/12/2025 của Cục HQ)

ĐVT: USD

Thị trường

Tháng 11/2025

 

So với tháng 10/2025 (%)

 

So với T11/2024 (%)

 

11T/2025

 

So với 11T/2025

 

Tỷ trọng (%)

 

Tổng KNXK

64.862.950

3,82

2,85

615.640.058

4,97

100

Mỹ

26.057.051

1,73

18,58

238.256.955

-1,04

38,7

FTA RCEP-15 thị trường

15.229.728

1,35

-8,37

157.038.931

8,96

25,51

FTA CPTPP-11 thị trường

12.786.565

18,43

31,51

100.786.485

14,39

16,37

(EU) FTA EVFTA-27 thị trường

10.024.715

-2,79

-8,49

96.834.974

12,76

15,73

Nhật Bản

10.931.732

22,92

52,63

82.669.113

23,72

13,43

Bỉ

4.763.157

19,5

18,02

48.092.700

9,55

7,81

HồngKông (TQ)

3.756.001

31,32

-24,08

39.976.455

-5,55

6,49

Pháp

4.136.696

-7,56

-32,44

36.760.752

12,37

5,97

Hàn Quốc

1.375.231

-54,77

-76,37

36.098.351

-23,8

5,86

ĐÔNG NAM Á

1.338.965

-17,03

-6,24

23.276.579

88,42

3,78

Thái Lan

1.338.965

-17,03

-6,24

23.276.579

88,42

3,78

Australia

1.583.800

7,05

-28,36

14.994.888

-14,74

2,44

Đức

776.753

-23,24

64,52

8.315.675

30,67

1,35

Tây Ban Nha

348.109

-58,55

7,54

3.665.847

26,54

0,6

Anh

271.033

-36,07

-22,55

3.122.484

-15,61

0,51

UAE

702.463

138,25

 

2.737.782

87,67

0,44

Đài Loan (TQ)

91.388

196,33

-7,24

949.380

-18,93

0,15

Nguồn: Vinanet/VITIC