(VINANET)
Có thể nói quan hệ hợp tác Việt Nam - Nhật Bản trong những năm gần đây đã phát triển tốt đẹp chưa từng có trong lịch sử quan hệ gần 40 năm kể từ khi hai nước thiết lập quan hệ ngoại giao vào năm 1973.
Hiện nay hai nước đang triển khai xây dựng quan hệ đối tác chiến lược toàn diện. Với việc công nhận Việt Nam là nền kinh tế thị trường, Nhật Bản trở thành nước G7 đầu tiên dành quy chế này cho Việt Nam.
Về thương mại, Nhật Bản luôn là một trong những đối tác hàng đầu của Việt Nam, hiện đang đứng thứ 3 sau Trung Quốc và Mỹ, là thị trường xuất khẩu thứ 3 có cán cân thương mại tương đối cân bằng. Về hợp tác công nghiệp, Nhật Bản hiện là đối tác hàng đầu của Việt Nam với những tiềm năng của một nước có công nghệ nguồn, đặc biệt là công nghiệp chế tạo. Điểm nổi bật là hai Thủ tướng đã ký các thỏa thuận về hợp tác xây dựng lò phản ứng của Nhà máy Điện hạt nhân Ninh Thuận 2 và hợp tác khai thác, chế biến đất hiếm mỏ Đông Pao (Lai Châu). Về đầu tư, Nhật Bản hiện là nhà đầu tư lớn thứ 4 về tổng vốn đăng ký, nhưng đứng đầu về tổng vốn thực hiện.
Theo thống kê của Tổng cục Hải quan Việt Nam, kim ngạch thương mại giữa hai nước trong năm 2011 đạt 21,181 tỷ USD, tăng 26,5% so với cùng kỳ năm 2010, trong đó kim ngạch xuất khẩu và nhập khẩu đều đạt trên 10 tỷ USD.
Trong bối cảnh chung của kinh tế toàn cầu năm 2012 sẽ tiếp tục được phục hồi, kinh tế Nhật Bản sẽ cơ bản hồi phục sau thảm họa và tăng trưởng khá hơn, tuy với tốc độ tăng không cao với mức tăng trưởng GDP của năm tài chính 2012 (từ ngày 1/4/2012-31/3/2013) thực chất được dự kiến là khoảng 2,2%. Nhìn chung, các ngành sản xuất và dịch vụ của Nhật sẽ hồi phục và tăng trưởng, nội nhu sẽ tăng do nhu cầu tái thiết đất nước.
Thị trường Nhật năm 2012 tuy vẫn còn nhiều khó khăn, nhưng chắc chắn sẽ mở ra thuận lợi.
Quan hệ kinh tế, thương mại, công nghiệp và đầu tư Việt Nam-Nhật Bản chắc chắn sẽ tiếp tục đà phát triển mạnh mẽ trên cơ sở quan hệ đối tác chiến lược với những nội hàm đã được xác định rộng rãi và cụ thể. Các hiệp định Đối tác Kinh tế Việt Nam-Nhật Bản (VJEPA) và Đối tác Kinh tế Toàn diện ASEAN-Nhật Bản (AJCEP) ngày càng phát huy tác dụng, nhu cầu tăng nhập khẩu hàng hóa từ nước ngoài của Nhật Bản và nhu cầu chuyển sản xuất ra nước ngoài của các doanh nghiệp Nhật đang diễn ra mạnh, tạo nên làn sóng đầu tư mới vào các nước châu Á, trong đó có Việt Nam, đồng thời xu hướng chuyển sang mua hàng Việt Nam của nhiều doanh nghiệp Nhật,v.v… Đó là những nhân tố tích cực tạo điều kiện thuận lợi cho quan hệ kinh tế, thương mại, công nghiệp và đầu tư giữa hai nước phát triển.
Sang năm 2012, cụ thể là hai tháng đầu năm này, kim ngạch thương mại giữa hai nước Việt Nam – Nhật Bản đạt 3,4 tỷ USD, trong đó Việt Nam xuất khẩu sang Nhật đạt kim ngạch 1,8 tỷ USD và nhập khẩu từ Nhật Bản 1,6 tỷ USD. Trong đó, xuất khẩu sang Nhật tăng 49,7% so với cùng kỳ năm trước. Tính riêng tháng 2/2012, xuất khẩu sang thị trường này đạt 982,6 triệu USD, giảm 13,27% so với tháng cuối năm 2011.
Các mặt hàng chủ yếu xuất khẩu sang thị trường Nhật Bản trong 2 tháng đầu năm nay là dầu thô, hàng dệt may, phương tiện vận tải và phụ tùng, máy móc thiết bị, hàng thủy sản, gỗ và sản phẩm, giày dép các loại…. nếu không kể dầu thô, thì mặt hàng dệt may chiếm tỷ trọng lớn, chiếm 14,2%, đạt 265,8 triệu USD, tăng 391% so với 2 tháng năm 2011, tuy nhiên, tính riêng tháng 2/2012, xuất khẩu hàng dệt may sang Nhật Bản lại giảm so với tháng 12/2011, giảm 8,37%, chỉ đạt 142,6 triệu USD.
Ngược lại Việt Nam nhập khẩu từ Nhật Bản các mặt hàng như Máy móc, thiết bị, dụng cụ, phụ tùng đạt 421,2 triệu USD - là mặt hàng có kim ngạch nhập khẩu cao nhất trong 2 tháng đầu năm; kế đến là Máy vi tính, sản phẩm điện tử và linh kiện 257,2 triệu USD; … Theo Phó trưởng Ban Quan hệ Quốc tế của VCCI cho biết, hai nước đặt mục tiêu kim ngạch thương mại đạt 30 tỷ USD trong năm 2015.
Đối với mặt hàng xuất khẩu, nhiều mặt hàng Việt Nam từ lâu đã thâm nhập và có chỗ đứng khá tại thị trường, trước hết là các mặt hàng may mặc, thủy sản, đồ gỗ, cà phê, sản phẩm nhựa, đồ da, giày dép, dây và cáp điện, sản phẩm điện tử và linh kiện,v.v… Trong năm tới, thị trường cho các mặt hàng xuất khẩu chủ lực vẫn tiếp tục có nhiều thuận lợi.
Về hợp tác công nghiệp, hiện nay và trong nhiều năm tới, Nhật Bản vẫn là đối tác hàng đầu của Việt Nam. Đẩy mạnh hợp tác công nghiệp với các nước châu Á là chủ trương nổi bật của Chiến lược tăng trưởng kinh tế giai đoạn 2010-2020 của Nhật Bản. Trong công thức China+ Nhật Bản muốn chọn Việt Nam là 1 trong 2 đối tác ưu tiên hàng đầu để phát triển quan hệ kinh tế, thương mại, công nghiệp và đầu tư. Lúc này chính là cơ hội rất tốt cho Việt Nam. Các lĩnh vực công nghiệp có thể hợp tác rất rộng, bao gồm từ công nghiệp nhẹ đến các ngành công nghiệp nặng, công nghệ cao và công nghiệp điện hạt nhân.
Để tăng nhanh, tăng mạnh và bền vững xuất khẩu sang Nhật Bản, doanh nghiệp Việt Nam cần phải làm tốt các việc chính sau đây:
- Khai thác mạnh và triệt để nhu cầu nhập khẩu của Nhật Bản đối với các loại mặt hàng, trước hết là các mặt hàng mà Việt Nam có thế mạnh.Trong đó, lưu ý khai thác tốt nhu cầu của thị trường nhập khẩu hàng hóa phục vụ phục hồi và tái thiết đất nước và hàng hóa bù đắp cho thiếu hụt nguồn cung nội địa hiện đang diễn ra.
- Nâng cao chất lượng hàng xuất khẩu, thường xuyên cải tiến mẫu mã để đáp ứng yêu cầu cao của thị trường.
- Đảm bảo đáp ứng yêu cầu số 1 đối với nông sản, thủy sản và thực phẩm nói chung nhập khẩu là vệ sinh, an toàn thực phẩm theo Luật Vệ sinh an toàn thực phẩm Nhật Bản. Sớm xử lý dứt điểm tình trạng thủy sản và nông sản thực phẩm Việt Nam xuất sang Nhật còn nhiều lô hàng vi phạm Luật VSATTP Nhật Bản (trong 11 tháng đầu năm 2011 hàng của Việt Nam đã có tới 109 vụ vi phạm).
- Xử lý nhanh vấn đề kiểm dịch động thực vật theo quy định của Nhật Bản để nhiều loại trái cây tươi và thịt gia súc, gia cầm Việt Nam sớm được phép nhập khẩu vào Nhật Bản.
- Tăng cường tổ chức các hoạt động xúc tiến thương mại đối với trường trọng điểm như Nhật Bản (năm 2011 Việt Nam làm được quá ít).
- Nắm chắc và triệt để tận dụng, khai thác các ưu đãi của các hiệp định VJEPA và AJCEP nhằm đẩy mạnh xuất khẩu vào thị trường.
- Nhanh chóng phát triển công nghiệp hỗ trợ cho ngành may mặc để nâng cao hàm lượng xuất xứ Việt Nam đạt yêu cầu được hưởng ưu đãi thuế suất nhập khẩu hàng may mặc vào Nhật Bản.
- Cần nhanh chóng thay đổi, hay nói đúng hơn là mở rộng cơ cấu hàng xuất khẩu, hàng công nghiệp chế tạo để tăng nhanh, tăng mạnh và bền vững xuất khẩu vào thị trường này.
- Khẩn trương và làm có hiệu quả việc đón nhận làn sóng mới chuyển giao sản xuất và đầu tư của Nhật Bản vào châu Á, trong đó Việt Nam là một trong những điểm đến hàng đầu và những cơ hội thuận lợi khác đang mở ra với Việt Nam.
- Các doanh nghiệp cần có chiến lược tiếp cận lâu dài thị trường, đặt mối quan hệ lâu dài với khách hàng Nhật Bản.Cần kiên trì trong giao dịch, cung cấp đầy đủ thông tin mà khách hàng quan tâm, chủ động giữ cầu trong quan hệ.
- Tăng cường thu thập thông tin về thị trường hàng hóa và doanh nghiệp Nhật bản (thông qua nhiều kênh thông tin và các tổ chức XTTM hiện có rất nhiều tại Việt Nam).
- Tích cực tiến hành các hoạt động XTTM, khảo sát thị trường để tìm hiểu nhu cầu, thị hiếu, tập quán, văn hóa kinh doanh của người Nhật và tìm kiếm khách hàng.
- Cần có cách làm phù hợp với các đối tác là doanh nghiệp lớn và với các đối tác là doanh nghiệp nhỏ và vừa.
- Cần có cơ chế vay ưu đãi thực sự cho sản xuất, kinh doanh hàng xuất khẩu, đặc biệt đối với những mặt hàng chủ lực và những mặt hàng có tiềm năng lớn. Triển khai sớm và đưa vào hoạt động có hiệu quả quỹ và cơ quan bảo hiểm xuất khẩu.
Đối với hợp tác công nghiệp, các việc cần làm là: Cùng với việc tăng cường hợp tác các dự án công nghiệp hạ tầng, cần mở rộng và tranh thủ hợp tác các ngành công nghiệp chế tạo, kể cả công nghiệp nhẹ, công nghiệp thực phẩm.
- Đối với công nghiệp hỗ trợ (CNHT), cần tranh thủ khai thác tiềm năng lớn của CNHT Nhật Bản. Cần có cách làm hiệu quả hơn, phù hợp với những đặc thù của ngành CNHT và đặc thù của doanh nghiệp Nhật hơn, ví dụ: Lập các khu công nghiệp chuyên dành cho doanh nghiệp Nhật Bản hay cần xây dựng nhà xưởng theo tiêu chuẩn Nhật để dễ dàng cho các nhà sản xuất CNHT Nhật, rồi cả việc có các cơ sở thiết yếu cho sinh hoạt của các gia đình người Nhật sang sinh sống và làm việc. Có chính sách khuyến khích, ưu tiên hơn, cụ thể hơn để tạo sự chuyển biến, mạnh mẽ CNHT.
- Một tổ chức, có thể là ban trực thuộc Bộ Công Thương, là rất cần thiết cho việc phát triển CNHT hiện nay.
- Một chương trình toàn diện về hợp tác công nghiệp với Nhật Bản là hết sức quan trọng và cần thiết. Trong đó hướng dẫn cho các địa phương và doanh nghiệp triển khai nhanh, mạnh, hợp tác công nghiệp với Nhật Bản, dặc biệt trong tình hình Nhật đang chuyển mạnh sản xuất, đầu tư ra nước ngoài hiện nay (trong cuộc thăm dò tháng 6/2011 của Báo Kinh tế Nhật Bản đối với 140 nhà lãnh đạo doanh nghiệp hàng đầu Nhật Bản, 39,3% đều trả lời rằng do đồng yên Nhật lên giá mạnh và không có khả năng xuống giá, sức cạnh tranh của hàng sản xuất tại Nhật sẽ càng thêm yếu, nên trong 3 năm tới doanh nghiệp của Nhật phải di chuyển cứ điểm sản xuất ra nước ngoài, mà trước hết là sang các nước châu Á).
- Các hoạt động xúc tiến hợp tác, đầu tư công nghiệp với Nhật Bản cũng là vấn đề cần làm mạnh hơn, quyết liệt hơn. Thương vụ tại Nhật Bản hy vọng trong năm 2012, Bộ Công Thương tổ chức được tối thiểu 5-6 hội thảo và giao thương xúc tiến hợp tác, đầu tư công nghiệp Nhật Bản.
Xuất khẩu sang thị trường Nhật Bản hai tháng năm 2012
ĐVT: USD
|
|
|
|
|
% +/- KN T2/2012 so T12/2011
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
Phương tiện vận tải và phụ tùng
|
|
|
|
|
máy móc, thiết bị, dụng cụ phụ tùng khác
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
máy vi tính, sản phẩm điện tử và linh kiện
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
túi xách, ví, vali, mũ và ô dù
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
Điện thoại các loại và linh kiện
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
giấy và các sản phẩm từ giấy
|
|
|
|
|
Kim loại thường và sản phẩm
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
thủy tinh và các sản phẩm từ thủy tinh
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
Máy ảnh, máy quay phim và linh kiện
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
sản phẩm mây, tre, cói và thảm
|
|
|
|
|
đá quý, kim loại quý và sản phẩm
|
|
|
|
|
bánh kẹo và các sản phẩm từ ngũ cốc
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
sắn và các sản phẩm từ sắn
|
|
|
|
|