Nhằm đáp ứng nhu cầu tiêu thụ than nội địa, Việt Nam đã hạn chế xuất khẩu than. Nhưng do giá than xuất khẩu tăng nên kim ngạch xuất khẩu than trong quý I/2008 tăng.
Thị trường xuất khẩu than lớn nhất của Việt Nam vẫn là Trung Quốc. Riêng tháng 3/2008, Việt Nam đã xuất khẩu sang Trung Quốc khoảng 3,15 triệu tấn than, trị giá 117,3 triệu USD, chiếm tới 54% tổng lượng than xuất khẩu của Việt Nam tới tất cả các thị trường.
Có thể thấy, xuất khẩu than tuy đã giảm nhưng hoạt động xuất khẩu than vẫn đem lại lãi lớn khi giá than xuất khẩu ngày một tăng. Trong khi đó, giá than bán trong nước phục vụ nhu cầu nội địa vẫn thấp.
Việc giá than trong nước tăng là cần thiết, bởi tăng giá bán than trong nước sẽ đẩy lùi được nạn xuất khẩu than lậu qua biên giới, giống như xuất khẩu xăng dầu từ Việt Nam sang Campuchia và Trung Quốc trong thời gian qua.
Sự biến động ở mỗi ngành đều có ảnh hưởng sâu sắc đến các ngành khác. Giá bán than tăng sẽ kéo theo giá điện, xi măng, giấy, phân bón… sẽ tăng. Nhưng cũng phải tôn trọng quy luật kinh tế của nó, sự can thiệp của Nhà nước chỉ là hãn hữu, trong trường hợp bất khả kháng và trong khoảng thời gian nhất định. Nếu ép một sản phẩm giảm giá quá mức, thì ngành đó sẽ không phát triển và kéo theo cả các ngành khác cũng không phát triển. Ở Việt Nam hiện nay, giá bán than thấp, một số ngành làm ăn được và tạm gọi là có lãi, nhưng là lãi “giả tạo” vì có sự bao cấp về giá đầu vào của Nhà nước. Nhiều người cho rằng, tăng giá bán than sẽ ảnh hưởng lớn tới các ngành kinh tế là chưa hoàn toàn chính xác. Hiện nay, mỗi năm chúng ta mới chỉ tự sản xuất được 180.000 tấn đạm urê từ than, tức là sản xuất đạm trong nước bằng than là không đáng kể. Tổng công suất của 3 nhà máy nhiệt điện chạy than hiện có (Phả Lại, Uông Bí và Ninh Bình) là 1.590 MW, chiếm khoảng 6,5% tổng công suất và khoảng 12% sản lượng điện…
Do vậy, giá bán than phải tăng dần, để các doanh nghiệp từng bước thích ứng, tự khẳng định mình, tiến tới tự đứng vững trong nền kinh tế thị trường, trước mắt là trong khu vực, sau đó là quốc tế. Những nước sát biên giới Việt Nam như Thái Lan, Trung Quốc mua than của Việt Nam với giá cao để sản xuất ra điện, xi măng, phân bón, giấy… xuất khẩu trở lại Việt Nam. Tức là, so với các doanh nghiệp của Việt Nam, các doanh nghiệp của Thái Lan và Trung Quốc, ngoài việc phải chịu giá than cao hơn đến 30%,  họ còn phải mất thêm 2 lần vận chuyển (vận chuyển than về và xi măng, giấy… trở lại Việt Nam), thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu và chi phí nhân công cùng chế độ bảo hiểm cho người lao động, chi phí bảo vệ môi trường… cao hơn Việt Nam rất nhiều. Cho nên, giá bán than cần phải tăng dần để các doanh nghiệp Việt Nam từng bước tiếp cận, thích ứng dần với thị trường khu vực và thế giới.
(Thông tin thương mại Việt Nam)

Nguồn: Vinanet