Năm 1991, xuất khẩu bị giảm do sự hụt hẫng về thị trường tại Liên Xô cũ và Đông Âu; Năm 1998, do cuộc khủng hoảng ở khu vực, nhưng xuất khẩu tăng thấp chỉ có 1,9%, chỉ có nhập khẩu bị giảm nhẹ.Năm 2009, tuy tốc độ giảm không bằng năm 1991 (giảm 12,5%), nhưng về kim gnạch tuyệt đối thì lớn hơn nhiều (gần 6 tỷ USD so với 0,3 tỷ USD). Hơn thế nữa, xuất khẩu có thể được coi là lĩnh vực bị tác động trực tiếp và lớn nhất của cuộc khủng hoảng tài chính và suy thoái kinh tế thế giới lần này so với các ngành và lĩnh vực khác (giải ngân FDI tuy bị giảm 13%, nhưng giải ngân ODA lại tăng cao, nên tổng vốn ĐTNN của 2 nguồn trên chỉ giảm 5,1% hay giảm 0,7 tỷ USD, còn kim ngạch xuất khẩu giảm tới gần 6 tỷ USD, hay giảm 9,5%).

Sự sụt giảm của xuất khẩu diễn ra ở cả hai khu vực. Khu vực kinh tế trong nước giảm 4,8%. Khu vực có vốn đầu tư nước ngoài (kể cả dầu thô) giảm tới 13,4%; chủ yếu do dầu thô bị giảm mạnh hơn (giảm 39,7%), còn không kể dầu thô chỉ giảm 2%.

Trong 24 mặt hàng xuất khẩu chủ yếu được thống kê, có 8 mặt hàng có kim ngạch tăng (đá quý, kim loại quý và sản phẩm, điện tử, máy tính và linh kiện; máy móc, thiết bị, dụng cụ phụ tùng; rau quả; chè; hạt tiêu; sắn và sản phẩm sắn; hoá chất và sản phẩm hoá chất). Có 16 mặt hàng có kim ngạch giảm, mức giảm tuyệt đối lớn nhất là dầu thô, giày dép, cao su, cà phê, gỗ và sản phẩm gỗ, thuỷ sản….

“Câu lạc bộ” những mặt hàng có kim ngạch từ 1 tỷ USD trở lên năm nay gồm có 12 thành viên (đứng đầu là dệt may;tiếp theo là dầu thô; thuỷ sản; giày dép; đá quý, kim loại quý và sản phẩm; gạo; điện tử, máy tính và linh kiện; gỗ và sản phẩm gỗ, máy móc, thiết bị dụng cụ, phụ tùng; cà phê; than đá; cao su).

Xuất khẩu giảm do nhiều nguyên nhân. Đặc biệt là nguyên nhân về thị trường. Những thị trường lớn thì do tác động của khủng hoảng nhu cầu bị co lại; những thị trường nhỏ mới được mở rộng tăng khá nhưng do tỷ trọng thấp nên dù tăng cao tác động cũng không lớn. Có nguyên nhân về giá cả. Chỉ những mặt hàng tính được đơn giá chungdo giá giảm mạnh đã làm cho kim ngạch bị giảm (như dầu thô, gạo, cà phê, xăng dầu, than đá, cao su, hạt điều, hạt tiêu, chè do giá giảm đã làm cho lượng xuất khẩu của những mặt hàng này có tăng cao). Điều đó chứng tỏ, nếu loại trừ yếu tố giảm giá thì lượng xuất khẩu năm nay tăng chứ không giảm. Có nguyên nhân về thanh toán của khách hàng nhập khẩu do việc vay vốn nhập hàng ở các nước này khó khăn hơn. Có nguyên nhân do các nước để bảo hộ đã dựng những hàng rào kỹ htuật để hạn chế nhập khẩu.

Tổng kim ngạch nhập khẩu giảm 14,9% nhiều hơn tốc độ giảm của kim ngạch xuất khẩu, nên nhập siêu đã giảm chỉ còn bằng hai phần ba so với năm trước (gần 12 tỷ USD so với trên 18 tỷ USD). Tuy nhiên, có một số vấn đề đáng lưu ý:

Một, đó là mức nhập siêu khá cao. Nếu không có tái xuất vàng thì mức nhập siêu cũng cao như năm 2007. Tỷ lệ nhập siêu ở mức 21,1%, cao hơn kế hoạch đề ra.

Hai, nhập siêu hoàn toàn là của khu vực kinh tế trong nước, còn khu vực có vốn ĐTNN thì xuất siêu; nếu không kể dầu thô thì khu vực có vốn ĐTNN cũng chỉ nhập siêu khoảng 1,2 tỷ USD.

Ba, nhập siêu vẫn chủ yếu từ châu Á, tập trung là Trung Quốc, Hàn quốc, Thái Lan, Singapore…

Bốn, trong các mặt hàng nhập khẩu có một số mặt hàng cần được xem lại vì kim ngạch khá lớn, như thức ăn gia súc và nguyên phụ liệu trên 1,7 tỷ USD, ôtô nguyên chiếc trên 1,2 tỷ USD, một vố hoá mỹ phẩm….

Xuất, nhập khẩu, xuất, nhập siêu năm 2009

ĐVT: triệu USD

Tổng kim ngạch xuất khẩu
56.734
XK khu vực kinh tế trong nước
26.834
Xuất khẩu khu vực có vốn ĐTNN
29.900
Tổng kim ngạch nhập khẩu
68.710
Nhập khẩu khu vực kinh tế trong nước
43.910
Nhập khẩu khu vực có vốn ĐTNN
24.800
Tổng nhập siêu
-11.976
Nhập siêu khu vực kinh tế trong nước
-17.076
Nhập siêu khu vực có vốn ĐTNN
5.100

Nguồn: Vinanet