I. TỔNG QUAN THỊ TRƯỜNG THẾ GIỚI
1. Diễn biến giá dầu thế giới tháng 7
Trong những phiên giao dịch đầu tháng 7 giá dầu luôn giữ xu hướng tăng và đã tăng mạnh trong những phiên gần đây. Bốn tuần vừa qua giá dầu WTI tăng vọt hơn 15% và dầu Brent tăng khoảng 7,5%. Chốt phiên hôm 19/7 giá dầu WTI kỳ hạn tháng 8 đã tăng lên 108,05 USD/thùng, cao nhất kể từ 19/3/2012, dầu Brent ở mức 108,07USD/thùng. Trong phiên này có lúc giá dầu WTI đã vượt dầu Brent lần đầu tiên kể từ tháng 10/2010. Hồi tháng 2 năm nay mức cộng của dầu Brent so với dầu WTI là 23 USD do dự trữ ngày càng tăng tại điểm phân phối của dầu thô WTI, cảng Cushing, Oklahoma, nhưng công suất đường ống vận chuyển dầu đã tăng lên, hiện nay nguồn dự trữ đã bắt đầu giảm xuống 46 triệu thùng từ mức 52 triệu thùng trong tháng giêng.
Đồ thị giá dầu WTI và Brent trong một tháng qua (USD/thùng)

Giá dầu tăng trong tháng 7 do một số nguyên nhân như: Số liệu kinh tế của Hoa Kỳ ngày càng khả quan; với tỷ lệ thất nghiệp giảm; hoạt động sản xuất tại các địa phương lên mức cao nhất kể từ 1/3/2011; Chủ tịch Fed cam kết chính phủ sẽ tiếp tục theo đuổi chính sách nới lỏng tiền tệ…
Dưới đây là báo cáo chi tiết
Nhu cầu tiêu thụ của Hoa Kỳ ngày càng tăng cao, với các nhà máy lọc dầu hoạt động với công suất cao nhất kể từ năm 2005 làm tồn trữ dầu thô của Hoa Kỳ giảm nhanh nhất trong lịch sử. Tại Gulf Coast các nhà máy lọc dầu chạy với mức trung bình gần 8,5 triệu thùng/ngày, cao nhất kể từ năm 1992 và tăng gần 400.000 thùng/ngày kể từ 14/6. Trong thời gian tới giá dầu sẽ tiếp tục được hỗ trợ bởi lo ngại nguồn cung từ khu vực Trung Đông có thể bị gián đoạn do tình trạng hỗn loạn tại Ai Cập.
2. Cung cầu thế giới
Nguồn cung dầu thế giới
Số liệu sơ bộ chỉ ra nguồn cung dầu toàn cầu trung bình ở mức 89,98 triệu thùng/ngày trong tháng 6, tương đối ngang bằng với tháng trước đó. Trạng thái ổn định này do sản lượng dầu thô OPEC sụt giảm và sản lượng của khu vực không thuộc OPEC tăng lên. Dầu thô OPEC ước tính chiếm 33,8% tổng nguồn cung toàn cầu, thấp hơn tháng trước.
Tổng sản lượng dầu thô của OPEC ở mức trung bình 30,38 triệu thùng/ngày trong tháng 6, sụt giảm 0,31 triệu thùng/ngày, với với tháng trước. Sản lượng dầu thô của OPEC ngoại trừ Iraq, ở mức trung bình 27,32 triệu thùng/ngày giảm 0,28 triệu thùng/ngày. Libya, Nigeria, Angola và Iraq dẫn đầu về sản lượng sụt giảm, trong khi sản lượng dầu thô từ Ả Rập Xê út và UAE tăng trong tháng 6.
Bảng sản lượng dầu thô của OPEC, nghìn thùng/ngày
|
|
2011
|
2012
|
4Q12
|
1Q13
|
2Q13
|
T4/13
|
T5/13
|
T6/13
|
+/- T5/T6
|
|
Algeria
|
1.173
|
1.203
|
1.184
|
1.199
|
1.202
|
1.195
|
1.204
|
1.207
|
3,0
|
|
Angola
|
1.618
|
1.704
|
1.690
|
1.734
|
..
|
1.711
|
1.730
|
..
|
..
|
|
Ecuador
|
500
|
504
|
503
|
506
|
520
|
516
|
522
|
524
|
2,5
|
|
Iran,I.R.
|
3.576
|
3.740
|
3.713
|
3.704
|
3.711
|
3.715
|
3.710
|
3.708
|
-2,0
|
|
Iraq
|
2.653
|
2.944
|
3.058
|
2.957
|
3.042
|
3.061
|
3.070
|
2.994
|
-76,0
|
|
Kuwait
|
2.660
|
2.977
|
2.967
|
2.813
|
2.970
|
2.970
|
2.960
|
2.980
|
20,0
|
|
Libya
|
462
|
1.450
|
1.498
|
1.489
|
1.415
|
1.518
|
1.441
|
1.286
|
-155,1
|
|
Nigeria
|
1.896
|
1.954
|
1.864
|
1.820
|
1.706
|
1.727
|
1.676
|
1.716
|
40,2
|
|
Qatar
|
734
|
734
|
727
|
728
|
724
|
727
|
723
|
721
|
-2,7
|
|
SaudiArabia
|
9.311
|
9.763
|
9.413
|
9.111
|
9.538
|
9.310
|
9.657
|
9.642
|
-15,3
|
|
UAE
|
2.565
|
2.652
|
2.664
|
2.823
|
2.792
|
2.771
|
2.770
|
2.836
|
65,6
|
|
Venezuela
|
2.795
|
2.804
|
2.785
|
2.743
|
2.762
|
2.754
|
2.758
|
2.774
|
16,3
|
|
Tổng cộng
|
29.942
|
32.429
|
32.066
|
31.626
|
..
|
31.974
|
32.221
|
..
|
..
|
(Nguồn OPEC)
Nhu cầu dầu thế giới
Tại OECD châu Mỹ trong nửa đầu năm 2013 nhu cầu nhiên liệu chưng cất ngày càng tăng là kết quả của sản xuất công nghiệp cải thiện, cùng với số liệu việc làm và chi tiêu tiêu dùng mạnh mẽ. Ngoài ra trong nửa đầu năm nay sự sụt giảm trong nhu cầu xăng chậm lại.
Nhu cầu dầu ở OECD châu Âu tiếp tục giảm tuy nhiên tốc độ chậm hơn dự kiến, do suy thoái kinh tế tiếp tục ở phần lớn các nước thuộc khu vực này. Nhu cầu dầu ở 4 nước lớn của châu Âu trong tháng 5/2013 tăng nhẹ so với năm 2012. Nói chung tiêu thụ dầu ở khu vực này trong năm 2013 vẫn ổn định so với dự báo tháng trước, không có sự cải thiện lớn trong nền kinh tế các nước.
Tại các nước OECD châu Á – Thái Bình Dương, nhu cầu dầu trong tháng 5 giảm so với năm trước, là kết quả của mức cơ sở năm trước cao bởi việc sử dụng nhiên liệu trực tiếp và dầu đốt năm 2012. Sự sụt giảm này một phần được bù bởi nhu cầu dầu hỏa tăng lên cũng như nhu cầu LPG dùng trong công nghiệp hóa dầu.
Đối với khu vực không thuộc OECD lần đầu tiên trong năm nay, chỉ số quản lý sức mua tháng 5/2013 của Trung Quốc chỉ ra sự thu hẹp trong hoạt động sản xuất. Chỉ số PMI đứng ở mức 49,9 trong tháng 5. Về mặt nhu cầu, dầu diesel – chiếm phần lớn nhu cầu dầu của Trung Quốc – đã ghi nhận số liệu tiêu cực trong các tháng 4 và tháng 5 so với cùng kỳ năm trước. Sản phẩm này sụt giảm 3,8% và 2,8% tương ứng trong tháng 4 và tháng 5/2012. Điều kiện thời tiết lạnh và mưa, làm chậm lại các hoạt động nông nghiệp tại nước này, cũng như những lo lắng lớn về kinh tế đã làm giảm nhu cầu sản phẩm.
Tại các nước châu Á khác, nhu cầu xăng của Ấn Độ tăng đáng kể 0,1 triệu thùng/ngày hay 31,2% so với những mức tháng 5/2012. Tăng trưởng cao hơn chủ yếu là mức tồn trữ thấp trong tháng 4, kết hợp với nhu cầu xăng thấp trong tháng 4/2012. Tuy nhiên, tăng trưởng nhu cầu xăng được dự kiến đạt mức tiêu thụ trung bình do doanh số bán xe yếu kém trong năm 2013. Sự sụt giảm trong trợ cấp dầu khí và xăng tại Indonesia được dự kiến cũng đè nặng lên nhu cầu các sản phẩm này.
OECD châu Mỹ
Số liệu nhu cầu dầu tháng 4/2013 vẫn ở xu hướng tăng so với trong tháng 3 và quý 1/2013. Nhu cầu dầu trong tháng 4/2013 đã tăng 1,3% so với tháng 4/2012. Bốn tháng đầu năm nay nhu cầu dầu tăng hơn khoảng 0,1 triệu thùng/ngày so với cùng kỳ năm trước.
Các đặc tính chính trong 4 tháng năm 2013 là nhu cầu nhiên liệu chưng cất ngày càng tăng, là kết quả của sản xuất công nghiệp đang cải thiện và sự sụt giảm trong nhu cầu xăng chậm lại. Hơn nữa việc điều chỉnh tăng số lượng việc làm trong 4 tháng đầu năm – đáng chú ý trong tháng 4, khi tỷ lệ thất nghiệp ở mức thấp nhất kể từ năm 2008 – và chi tiêu tiêu dùng mạnh cũng đóng góp vào sự tăng nhu cầu dầu.
Tuy nhiên, số liệu sơ bộ hàng tuần trong tháng 5 và tháng 6/2013 chỉ ra nhu cầu dầu ổn định so với năm trước, trong khi mô hình sản phẩm này trong 4 tháng đầu năm 2013 – nhiên liệu chưng cất ngày càng tăng cùng với nhu cầu xăng giảm – dường như vẫn tiêp tục. Những rủi ro trong sự phát triển nhu cầu dầu Hoa Kỳ năm 2013 vẫn phụ thuộc mạnh vào sự phát triển và tốc độ phục hồi kinh tế của nước này. Tuy thế, cũng có nguy cơ sụt giảm đáng kể, chủ yếu liên quan tới những vấn đề tài chính chưa quyết định và ảnh hưởng của việc cắt giảm ngân sách đã được phê duyệt gần đây đối với tổng thể nền kinh tế.
OECD châu Âu
Nhu cầu dầu của châu Âu một lần nữa giảm trong tháng 5 so với năm trước, do tiếp tục suy thoái kinh tế sâu tại nhiều nơi của khu vực này. Tuy nhiên, mức độ giảm là ít hơn so với những tháng trước, do một số cải thiện trong nhu cầu dầu của châu Âu.
Như trong những tháng trước, nhu cầu dầu sụt giảm mạnh hơn tại các nước nam Âu, nơi đang thực hiện các biện phát khắc khổ nghiêm ngặt và nhằm mục đích giảm nợ công. Nhu cầu dầu giảm tại tất cả các nước nam Âu, giảm mạnh nhất tại Tây Ban Nha, Italy, Bồ ĐàoNha và Hy Lạp, trong khi Đức, Pháp và Anh có một số cải thiện. Ngoài ra, đà tăng tích cực trong doanh số bán xe ô tô tháng 4 đã ngừng lại, trong tháng 5 tất cả các thị trường lớn ở châu Âu đều sụt giảm. Nhu cầu dầu tại 4 nước lớn châu Âu trong tháng 5 tăng nhẹ 0,1 triệu thùng/ngày mặc dù có mức thấp trong năm 2012, Anh chiếm phần lớn sự tăng này.
OECD châu Á – Thái Bình Dương
Tại Nhật Bản, nhu cầu dầu tháng 5 giảm so với năm ngoái khi mà phần lớn nhiên liệu trực tiếp và dầu đốt để phát điện, gây ra nhu cầu cao năm 2012. Sự sụt giảm được một phần bù bởi nhu cầu LPG tăng cho công nghiệp hóa dầu và dầu hỏa, dẫn đến tổng thể nhu cầu giảm 0,2 triệu thùng/ngày so với năm trước.
Hơn nữa, hy vọng doanh số bán ô tô phục hồi tại Nhật, bắt nguồn từ kết quả tích cực trong tháng 4/2013, đã tắt ngấm bởi sự sụt giảm mạnh doanh số bàn ô tô trong tháng 5/2013. Chi tiêu của hộ gia đình cũng ghi nhận sụt giảm trong tháng 5/2013, trong khi niềm tin tiêu dùng được cải thiện.
Tình trạng của các nhà máy điện hạt nhân Nhật Bản vẫn không thay đổi so với tháng trước, với khởi động bổ sung trong năm 2013 là khó xảy ra. Cơ quan điều hành hạt nhân Nhật Bản (NRA) đã quyết định chỉ tiếp tục hoạt động hai lò phản ứng - đơn vị số 3 và 4 tại nhà máy hạt nhân Oi – với các hướng dẫn an toàn mới là ràng buộc hợp pháp đối với các nhà điều hành hạt nhân. Hơn nữa, những người điều hành nhà máy hạt nhân dự kiến sẽ thành lập các trung tâm chỉ huy khẩn cấp và lắp đặt lỗ thông hơi lọc để giúp giảm thải các chất phóng xạ có hại từ các lò phản ứng. NRA bắt đầu chấp nhận đơn khởi động lại các nhà máy hạt nhân kể từ ngày 8/7/2013, trong khi họ dự kiến phải mất ít nhất 6 tháng để cơ quan chức trách này tiến hành các kiểm tra cần thiết và chấp thuận các lò phản ứng hoạt động trở lại.
Các nước châu Á khác
Trong tháng 5, tại Ấn Độ trừ xăng, diesel và các sản phẩm khác, tất cả các sản phẩm pha trộn đều sụt giảm so với năm trước. Tồn trữ thấp hơn trong tháng 4, với dự đoán giá điều chỉnh giảm, cũng như nhu cầu xăng thấp trong tháng 5/2012, đã thúc đẩy tăng nhu cầu xăng đáng kể. Sản phẩm này tăng đáng kinh ngạc 100 nghìn thùng/ngày, mức tăng trưởng cao nhất ghi nhận theo tính toán của OPEC.
Một mặt khác, doanh số bán ô tô khá tồi trong những tháng gần đây. Doanh số bán xe trở khách không tăng trong 6 tháng liên tiếp, ghi nhận sự tăng trưởng âm 8,9% trong tháng 5 so với một năm trước. Tăng trưởng doanh số bán ô tô tiếp tục tiêu cực, cùng với tăng trưởng kinh tế chậm lại tại Ấn Độ chắc chắn sẽ làm suy yếu nhu cầu xăng tại nước này trong những tháng tới.
Nhu cầu tại Trung Đông trong nửa đầu năm 2013 được điều chỉnh giảm 20 nghìn thùng/ngày và 30 nghìn thùng/ngày trong quý 1 và quý 2/2013 tương ứng. Trong năm 2012, nhu cầu dầu của Trung Đông tăng 0,24 triệu thùng/ngày, trong khi nhu cầu dầu năm 2013 sẽ tăng chỉ 50 nghìn thùng/ngày so với năm 2012.
Số liệu tăng trưởng nhu cầu dầu khí thấp hơn ở Trung Quốc – cùng với các chỉ số kinh tế yếu hơn – đã làm tăng lo ngại về nhu cầu, thúc đẩy các nhà dự báo lớn điều chỉnh giảm. Nhu cầu sản phẩm dầu khí tăng trưởng âm kể từ cuối tháng 3/2013, so với tháng 3/2012. Sản phẩm này đã giảm 3,8% và 2,8% trong tháng 4 và tháng 5/2012, do điều kiện thời tiết lạnh và ẩm ướt, đã làm chậm các hoạt động nông nghiệp trong năm nay, cũng như lo sợ kinh tế phát triển chậm lại.
Chỉ số PMI chính thức của Trung Quốc ở trên ngưỡng 50 trong tháng 4, tuy nhiên hoạt động sản xuất của Trung Quốc đã thu hẹp lân đầu tiên trong năm năm vào tháng 5/2013. Chỉ số PMI là 49,19 trong tháng này, khẳng định sự suy yếu trong nền kinh tế Trung Quốc. Do đó, số liệu nhu cầu dầu ở Trung Quốc được điều chỉnh giảm 21 nghìn thùng/ngày, xuống mức tăng trưởng 0,33 triệu thùng/ngày trong năm 2013.
Trong tháng 5, tiêu thụ xăng tại nước này tiếp tục tăng 0,2 triệu thùng/ngày hay 11% so với những mức năm ngoái. Nhu cầu tăng này được hỗ trợ nhiều bới doanh số bán xe trở khách tại Trung Quốc, tiếp tục tăng trong sự lo lắng về kinh tế. Số liệu mới nhất, doanh số bán ô tô Trung Quốc tăng khoảng 12% trong tháng 6 so với cùng tháng năm trước.
Tiêu thụ dầu của Trung Quốc tăng 0,3 triệu thùng/ngày trong năm 2012. Nhu cầu dầu của Trung Quốc được dự đoán tăng với mức tương tự trong năm 2013 và 2014. Sự tăng trưởng này tùy thuộc vào điều kiện kinh tế, cơ chế giá sản phẩm dầu, những thay đổi trong chất lượng/ tiêu chuẩn nhiên liệu và những mức nhiên liệu thay thế.
3. Dự báo
Nguồn cung
Nguồn cung dầu của khu vực không thuộc OPEC được dự kiến trung bình 53,92 triệu thùng/ngày trong năm 2013, tăng 0,98 triệu thùng so với năm 2012.
Bảng dự báo nguồn cung dầu của các nước không thuộc OPEC, triệu thùng/ngày
|
|
2012
|
1Q13
|
2Q13
|
3Q13
|
4Q13
|
2013
|
13/12
|
|
Châu Mỹ
|
16,74
|
17,58
|
17,61
|
17,63
|
17,77
|
17,65
|
0,91
|
|
Châu Âu
|
3,77
|
3,63
|
3,56
|
3,44
|
3,59
|
3,55
|
-0,22
|
|
Châu Á Thái Bình Dương
|
0,56
|
0,45
|
0,50
|
0,53
|
0,54
|
0,51
|
-0,05
|
|
Tổng OECD
|
21,07
|
21,66
|
21,67
|
21,60
|
21,91
|
21,71
|
0,64
|
|
Các nước châu Á khác
|
3,63
|
3,64
|
3,63
|
3,68
|
3,69
|
3,66
|
0,03
|
|
Mỹ La Tinh
|
4,70
|
4,70
|
4,65
|
4,84
|
4,87
|
4,76
|
0,07
|
|
Trung Đông
|
1,49
|
1,47
|
1,37
|
1,40
|
1,37
|
1,40
|
-0,09
|
|
Châu Phi
|
2,32
|
2,33
|
2,38
|
2,42
|
2,45
|
2,40
|
0,08
|
|
Tổng cộng các nước đang phát triển
|
12,13
|
12,15
|
12,03
|
12,33
|
12,39
|
12,23
|
0,09
|
|
FSU
|
13,30
|
13,44
|
13,36
|
13,37
|
13,44
|
13,40
|
0,11
|
|
Các nước châu Âu khác
|
0,14
|
0,13
|
0,13
|
0,13
|
0,13
|
0,13
|
0,00
|
|
Trung Quốc
|
4,17
|
4,24
|
4,27
|
4,26
|
4,30
|
4,27
|
0,09
|
|
Tổng các khu vực khác
|
17,61
|
17,81
|
17,76
|
17,76
|
17,88
|
17,80
|
0,19
|
|
Sản lượng của các nước ngoài OPEC
|
50,82
|
51,61
|
51,46
|
51,69
|
52,18
|
51,74
|
0,92
|
|
Tăng cường chế biến
|
2,12
|
2,18
|
2,18
|
2,18
|
2,18
|
2,18
|
0,06
|
|
Tổng nguồn cung của các nước ngoài OPEC
|
52,94
|
53,79
|
53,65
|
53,88
|
54,36
|
53,92
|
0,98
|
|
Ước tính trước đó
|
52,98
|
53,82
|
53,69
|
53,89
|
54,43
|
53,96
|
0,98
|
|
Điều chỉnh
|
-0,04
|
-0,03
|
-0,05
|
-0,02
|
-0,07
|
-0,04
|
0,00
|
(Nguồn OPEC)
Nguồn cung của Hoa Kỳ, Australia, Malaysia, Nam Sudan và Sudan, Nga và Trung Quốc được điều chỉnh tăng, trong khi nguồn cung dầu của Canada, Anh, Brazil, Syria, Yemen và Kazakhstan được điều chỉnh giảm. Dựa trên cơ sở hàng quý, nguồn cung của các nước không thuộc OPEC trong năm 2013 được dự đoán đứng ở mức 53,79 triệu thùng/ngày, 53,65 triệu thùng/ngày, 53,88 triệu thùng/ngày và 54,36 triệu thùng/ngày.
Năm 2013 nguồn cung tiếp tục được dự đoán với mức rủi ro cao do một loạt các yếu tố gồm chính trị, kỹ thuật và vấn đề liên quan tới thời tiết, bảo dưỡng và sự sụt giảm tốc độ phát triển. Nguồn cung dầu của OECD được dự đoán ở mức trung bình 21,71 triệu thùng/ngày trong năm 2013 – tăng 0,64 triệu thùng so với năm 2012.
Sản lượng của Hoa Kỳ dự đoán ở mức 10,76 triệu thùng/ngày, tăng 0,73 triệu thùng/ngày trong năm 2013, tăng cao nhất trong số các nước không thuộc OPEC. Tăng trưởng của dầu đá phiến sét từ Bắc Dakota và Texas đồng thời việc khởi động lại dự án Thunder Horse tiếp tục hỗ trợ xu hướng tăng này. Rủi ro dự báo vẫn cao do những yếu tố thời tiết và kỹ thuật, đặc biệt với mùa bão có thể ảnh hưởng tới sản lượng tại vịnh Mexico.
Dự báo nguồn cung năm 2013 của Canada được điều chỉnh giảm 15 nghìn thùng/ngày xuống mức trung bình 3,99 triệu thùng/ngày. Việc điều chỉnh giảm ảnh hưởng tới quý 2, trong khi phần còn lại của năm nay vẫn không đổi, chủ yếu do lũ hụt tại Alberta, công việc bảo trì cũng ảnh hưởng tới sản lượng trong quý 2.
Sản lượng dầu của Mexico được dự kiến giảm 40 nghìn thùng/ngày trong năm 2013 xuống mức trung bình 2,88 triệu thùng/ngày, không đổi so với báo cáo tháng trước.
Sản lượng dầu của Norway năm 2013 được dự báo không đổi so với báo cáo tháng trước ở mức trung bình 1,8 triệu thùng/ngày, sụt giảm 0,12 triệu thùng/ngày so với năm trước.
Sản lượng dầu của Anh được dự kiến giảm tới 60 nghìn thùng/ngày trong năm 2013 so với năm trước, xuống mức trung bình 0,89 triệu thùng/này. Việc tiếp tục đóng cửa không có kế hoạch tại giếng dầu Buzzard làm tăng lo ngại về khả năng phân phối của giếng này theo kế hoạch. Mặt khác việc tăng cường sản xuất của giếng Huntington lên mức đỉnh một phần bù cho việc điều chỉnh giảm.
Sản lượng dầu của Australia được dự báo ở mức trung bình 0,43 triệu thùng/ngày trong năm 2013, giảm 50 nghìn thùng/ngày so với năm trước.
Các nước châu Á khác nguồn cung được dự báo ở mức trung bình 3,66 triệu thùng /ngày trong năm 2013, tăng 30 nghìn thùng/ngày so với năm 2012, ổn định so với dự báo tháng trước. Nguồn cung dầu của Malaysia điều chỉnh nhỏ không ảnh hưởng tới dự báo hàng năm của các nước châu Á khác.
Nguồn cung của các nước Mỹ La Tinh được dự báo tăng 0,07 triệu thùng/ngày trong năm 2013 lên mức trung bình 4,76 triệu thùng/ngày.
Sản lượng dầu của Brazil được dự kiến giảm 10 nghìn thùng/ngày trong năm 2013 xuống 2,59 triệu thùng/ngày. Sự thay đổi này được tạo ra bởi số liệu sản lượng thấp hơn dự kiến đối với quý 2 do việc quay lại bảo trì tại một số giếng dầu tại Campos. Tuy nhiên, tăng trưởng trong nửa cuối năm sẽ không đủ để bù cho sự sụt giảm mạnh mẽ trong quý đầu và một phần của quý.
Sản lượng dầu của Trung Đông được dự kiến ở mức trung bình 1,40 triệu thùng/ngày trong năm 2013, giảm 90 nghìn thùng/ngày so với năm. Việc điều chỉnh giảm đến từ nguồn cung dầu của Syria và Yemen. Nguồn cung dầu của Syria được ước tính trung bình 90 nghìn thùng/ngày trong năm 2013, giảm 120 nghìn thùng/ngày so với năm trước.
Sản lượng dầu của châu Phi được dự kiến trung bình 2,4 triệu thùng/ngày trong năm 2013, tăng 80 nghìn thùng/ngày so với năm trước và điều chỉnh tăng 15 nghìn thùng/ngày so với tháng trước. Việc điều chỉnh tăng đến từ Sudan và nam Sudan, do hai quốc gia này đồng ý tiếp tục bơm dầu.
Nguồn cung dầu của FSU được dự kiến trung bình 13,40 triệu thùng/ngày trong năm 2013, tăng 0,11 triệu thùng/ngày so với năm trước. Nguồn cung dầu của Nga được dự kiến trung bình 10,45 triệu thùng/ngày trong năm 2013, tăng 80 nghìn thùng/ngày so với năm trước và điều chỉnh tăng 5 nghìn thùng/ngày so với tháng trước. Việc điều chỉnh tăng do sản lượng dầu tháng 6 đạt 10,51 triệu thùng/ngày, mức cao mới thời hậu Xô Viết. Sản lượng dầu của Kazakhstan ở mức trung bình 1,65 triệu thùng/ngày trong năm 2013, tăng 60 nghìn thùng/ngày so với năm trước và điều chỉnh giảm 20 nghìn thùng/ngày so với báo cáo tháng trước.
Nguồn cung của Trung Quốc được dự kiến ở mức trung bình 4,27 triệu thùng/ngày trong năm 2013, tăng 90 nghìn thùng/ngày so với năm 2012 và điều chỉnh tăng 10 nghìn thùng/ngày so với báo cáo tháng trước. Việc điều chỉnh tăng này đến từ quý 2, do cập nhật số liệu sản lượng tăng nhẹ so với dự kiến. Mặc dù sản lượng của giếng dầu Penglai sẽ không quay lại mức đỉnh trước đó 150 nghìn thùng/ngày trước khi đóng cửa trong năm 2011 và sẽ tiếp tục sản xuất ở mức 100 nghìn thùng/ngày.
Nhu cầu
Tăng trưởng nhu cầu dầu năm 2013 được điều chỉnh giảm 12 nghìn thùng/ngày so với báo cáo tháng trước. Sự điều chỉnh này dựa trên số liệu thực và sơ bộ đối với nửa đầu năm nay, cũng như kinh tế thế giới phục hồi chậm hơn dự kiến trong 6 tháng đầu năm nay.
Trong điều kiện tuyệt đối, tổng nhu cầu trong năm 2013 được ước tính ở mức trung bình 88,9 triệu thùng trong quý 1/2013 trước khi giảm nhẹ xuống 88,7 triệu thùng/ngày trong quý 2. Nửa cuối năm nhu cầu dầu toàn cầu được dự kiến phục hồi, đạt tới khoảng 90,1 triệu thùng/ngày và 90,8 triệu thùng trong quý 3 và quý 4, hỗ trợ bởi mức đỉnh theo mùa. Tính cho toàn bộ năm nay, tăng trưởng nhu cầu dầu sẽ gần như không đổi so với báo cáo tháng trước đứng ở mức 89,6 triệu thùng/ngày.
Bảng dự báo nhu cầu dầu thế giới năm 2013, triệu thùng/ngày
|
|
2012
|
1Q13
|
2Q13
|
3Q13
|
4Q13
|
2013
|
2013/12
|
|
+/-
|
%
|
|
Châu Mỹ
|
23,74
|
23,70
|
23,72
|
23,91
|
23,84
|
23,79
|
0,06
|
0,24
|
|
Châu Âu
|
13,75
|
13,23
|
13,51
|
13,51
|
13,35
|
13,40
|
-0,35
|
-2,57
|
|
Châu Á Thái Bình Dương
|
8,49
|
8,88
|
7,91
|
8,19
|
8,64
|
8,40
|
-0,09
|
-1,02
|
|
Tổng cộng OECD
|
45,98
|
45,81
|
45,13
|
45,61
|
45,83
|
45,60
|
-0,38
|
-0,84
|
|
Các nước châu Á khác
|
10,83
|
10,89
|
11,04
|
11,15
|
11,17
|
11,06
|
0,24
|
2,18
|
|
Mỹ La Tinh
|
6,26
|
6,21
|
6,45
|
6,70
|
6,59
|
6,49
|
0,23
|
3,63
|
|
Trung Đông
|
7,58
|
7,79
|
7,75
|
8,18
|
7,75
|
7,87
|
0,29
|
3,80
|
|
Châu Phi
|
3,42
|
3,42
|
3,42
|
3,38
|
3,52
|
3,43
|
0,01
|
0,26
|
|
Tổng cộng các nước đang phát triển
|
28,10
|
28,30
|
28,66
|
29,41
|
29,04
|
28,85
|
0,76
|
2,70
|
|
FSU
|
4,41
|
4,33
|
4,18
|
4,59
|
4,84
|
4,49
|
0,07
|
1,63
|
|
Các nước châu Âu khác
|
0,64
|
0,63
|
0,59
|
0,63
|
0,71
|
0,64
|
-0,01
|
-0,81
|
|
Trung Quốc
|
9,74
|
9,79
|
10,19
|
9,89
|
10,41
|
10,07
|
0,33
|
3,38
|
|
Tổng các khu vực khác
|
14,80
|
14,75
|
14,95
|
15,10
|
15,96
|
15,19
|
0,40
|
2,68
|
|
Tổng nhu cầu thế giới
|
88,87
|
88,85
|
88,74
|
90,13
|
90,83
|
89,64
|
0,77
|
0,87
|
|
Dự đoán trước đó
|
88,87
|
88,81
|
88,71
|
90,16
|
90,90
|
89,65
|
0,78
|
0,88
|
|
Điều chỉnh
|
0,00
|
0,05
|
0,04
|
-0,04
|
-0,07
|
-0,01
|
-0,01
|
-0,01
|
(Nguồn OPEC)
Tăng trưởng nhu cầu dầu tại Trung Quốc được điều chỉnh giảm 21 nghìn thùng/ngày do tăng trưởng nhu cầu dầu khí giảm trong những tháng gần đây và triển vọng kinh tế khiêm tốn do lo ngại về tín dụng và ngân hàng. Tăng trưởng nhu cầu dầu của Trung Đông được điều chỉnh giảm 18 nghìn thùng/ngày.
Ngược lại, tăng trưởng nhu cầu dầu của OECD được điều chỉnh tăng 28 nghìn thùng/ngày so với ước tính trước, chủ yếu dựa vào nửa đầu năm nay, do nhu cầu thực mạnh mẽ trong quý 1 từ OECD châu Mỹ và số liệu hoạt động công nghiệp của Đức trong tháng 4 tốt hơn dự kiến. Nhu cầu tiếp tục được hỗ trợ bởi doanh số bán xe ô tô cải thiện gần đây tại Anh và Đức, điển hình trong tháng 4 năm nay.
Giá dầu
Theo cơ quan thông tin năng lượng Hoa Kỳ (EIA) giá dầu thô Brent giao ngay trung bình sẽ là 102 USD/thùng trong nửa cuối năm 2013, và 100 USD/thùng trong năm 2014. Dự báo này giả định không có sự gián đoạn các thị trường năng lượng phát sinh từ tình trạng bất ổn gần đây ở Ai Cập.
Cơ quan này cũng dự báo giá xăng bán lẻ trung bình giảm từ mức 3,63 USD/gallon trong năm 2012 xuống 3,48 USD/gallon trong năm 2013 và 3,37 USD/gallong trong năm 2014.
II. TỔNG QUAN THỊ TRƯỜNG TRONG NƯỚC
1. Diễn biến giá xăng dầu trong nước tháng 7
Trong kỳ báo cáo này giá xăng dầu đã được điều chỉnh tăng hai lần vào ngày 28/6 và 17/7.
Đồ thị giá xăng và dầu diesel từ đầu năm đến nay (theo giá của Petrolimex)

Tối 28/6, Liên bộ Tài chính - Công Thương bất ngờ thông báo quyết định điều chỉnh giá xăng dầu, các doanh nghiệp được phép tăng giá tối đa 305 - 370 đồng một lít đối với các mặt hàng xăng dầu, kể từ 20h cùng ngày.
Giá xăng RON 92 sẽ lên tối đa 24.123 đồng một lít. Các mặt hàng dầu diesel, dầu hỏa, dầu madút cũng được điều chỉnh tương ứng lên mức cao nhất 18.784 - 21.841 đồng một lít.
Cùng với quyết định tăng giá, cơ quan quản lý cũng cho phép doanh nghiệp tiếp tục giữ mức sử dụng quỹ bình ổn đối với mặt hàng xăng (300 đồng một lít) và dầu madút (100 đồng một kg). Riêng mức sử dụng đối với dầu diesel và dầu hỏa giảm từ 300 đồng xuống 200 đồng một lít. Hiện việc trích quỹ vẫn được thực hiện với các mặt hàng này ở mức 300 đồng/lít, kg.
Bộ Tài chính cho biết, giá xăng dầu trên thị trường thế giới bình quân 30 ngày gần đây (từ ngày 17/6 -16/7/2013) biến động chủ yếu theo xu hướng tăng và luôn dao động ở mức cao. Cụ thể: giá xăng RON 92: 117,47 USD/thùng; dầu diesel 0,05S: 121,60 USD/thùng; dầu hỏa: 118,91 USD/thùng, dầu madút 3,5S: 612,24 USD/tấn.
Theo đó, giá cơ sở các mặt hàng xăng, dầu theo các quy định hiện hành (trừ dầu madút) đang cao hơn so với giá bán hiện hành từ 726 - 988 đồng/lít (xăng RON 92: 988 đồng/lít, dầu deizel 0,05S: 770 đồng/lít, dầu hỏa: 726 đồng/lít).
Theo Bộ Tài chính, Liên Bộ Tài chính - Công thương đồng ý cho doanh nghiệp đầu mối điều chỉnh giá xăng dầu do trong bối cảnh hiện nay, thuế suất thuế nhập khẩu xăng dầu vẫn thấp hơn barem quy định, số dư Quỹ Bình ổn giá còn ít (đến hết ngày 10/7/2013 còn khoảng 61 tỷ đồng, nhiều doanh nghiệp đang bị âm quỹ).
Tuy nhiên, liên bộ cũng yêu cầu các doanh nghiệp kinh doanh xăng dầu đầu mối chia sẻ lợi nhuận định mức; tạm thời cắt giảm 2/3 lợi nhuận định mức trong công thức tính giá cơ sở của mặt hàng xăng, tức lợi nhuận định mức trong công thức tính giá cơ sở đối với mặt hàng xăng chỉ tạm tính 100 đồng/lít.
Đồng thời, để hạn chế mức tăng giá cao, tiếp tục sử dụng Quỹ BOG 300 đồng/lít đối với xăng; tăng mức sử dụng Quỹ đối với mặt dầu diesel, dầu hỏa thêm 100 đồng/lít lên 300 đồng/lít.
Sau khi thực hiện sử dụng Quỹ BOG và cắt giảm lợi nhuận định mức đối với mặt hàng xăng của doanh nghiệp như trên, phần chênh lệch giữa giá cơ sở đang cao hơn giá bán hiện hành từ 426-468 đồng/lít (Xăng RON 92: 468 đồng/lít; Dầu diesel 0,05S: 470 đồng/lít; Dầu hỏa: 426 đồng/lít). Theo đó, doanh nghiệp được tăng giá xăng dầu tối đa không vượt quá mức chênh lệch này từ 20h ngày 17/7. Riêng mặt hàng dầu madút do mức chênh lệch không lớn nên giữ ổn định giá bán như hiện hành.
2. Tình hình sản xuất và xuất nhập khẩu
Trong 6 tháng đầu năm 2013, Tập đoàn dầu khí quốc gia đã tích cực triển khai công tác tìm kiếm thăm dò, khai thác dầu khí cả trong nước và ngoài nước; tiến độ thực hiện các dự án được đảm bảo theo đúng Chương trình công tác và ngân sách đã được phê duyệt và thu được nhiều kết quả quan trọng. Gia tăng trữ lượng dầu khí đạt 16,5 triệu tấn dầu quy đổi, bằng 47,1% kế hoạch năm.Tổng sản lượng khai thác quy dầu đạt 13,64 triệu tấn, bằng 106,3% kế hoạch 6 tháng và 54,1% kế hoạch năm, tăng 4,6% so với cùng kỳ năm 2012, trong đó: Sản lượng khai thác dầu thô đạt 8,34 triệu tấn, bằng 102,3% kế hoạch 6 tháng và 52,1% kế hoạch năm, tăng 2,3% so với cùng kỳ năm 2012; Sản lượng khai thác khí đạt 5,30 tỷ m3, bằng 113,2% kế hoạch 6 tháng và 57,6% kế hoạch năm, tăng 8,5% so với cùng kỳ năm 2012.
Sản xuất xăng dầu toàn Tập đoàn đạt 3,27 triệu tấn, bằng 121,7% kế hoạch 6 tháng và 60,7% kế hoạch năm, tăng 28,3% so với cùng kỳ năm 2012.
Chỉ trong thời gian ngắn (13 tháng) tính từ khi phát hiện dòng dầu khí công nghiệp tại giếng thăm dò (tháng 6/2012), Vietsovpetro đã tự thiết kế, lắp đặt và đưa mỏ Thỏ Trắng vào khai thác an toàn. Ngày 29/6/2013, mỏ dầu Thỏ Trắng tại Lô 09-1 thuộc thềm lục địa Việt Nam đã cho dòng dầu đầu tiên với lưu lượng trên 200 tấn/ngày đêm từ giếng ThT-2X tại giàn nhẹ ThTC-1, mỏ được đưa vào khai thác sớm 15 ngày so với tiến độ phê duyệt.
Trong tháng này dự án lọc dầu Vũng Rô đã được điều chỉnh lên 8 triệu tấn/năm từ mức 4 triệu tấn với tổng vốn đầu tư gần 3,18 tỷ USD. Theo kế hoạch của chủ đầu tư, dự án sẽ chính thức khởi công xây dựng trong quý 3/2013, có diện tích đất sử dụng 538 ha. Mục tiêu của dự án là xây dựng nhà máy chế biến và phân phối các sản phẩm lọc dầu từ dầu thô và các sản phẩm hóa dầu khác.
Xuất khẩu dầu thô: Lượng xuất khẩu dầu thô trong tháng 6 là 814 nghìn tấn, tăng 6,1% so với tháng 5/2013 với trị giá là 677 triệu USD, tăng 5,5%. Tính từ đầu năm đến hết tháng 6/2013, lượng dầu thô xuất khẩu của cả nước đạt 4,29 triệu tấn, tăng nhẹ 1,3% về lượng nhưng kim ngạch lại giảm 4,3% (đạt 3,68 tỷ USD) so với cùng kỳ năm trước do giá xuất khẩu bình quân mặt hàng này giảm 78 USD/tấn.
Dầu thô của Việt Nam chủ yếu được xuất khẩu sang Nhật Bản: 1,27 triệu tấn, giảm 19,5%; sang Australia: 749 nghìn tấn, tăng 3,4%; sang Malaysia: 709 nghìn tấn, tăng 37,3%; sang Hàn Quốc: 492 nghìn tấn, tăng 167% so với cùng kỳ năm 2012.
Nhập khẩu xăng dầu: Lượng xăng dầu nhập khẩu trong tháng 6 là gần 608 nghìn tấn, trị giá là 543 triệu USD, giảm 13% về lượng và giảm 13,3% về trị giá. Tính đến hết tháng 6/2013, tổng lượng xăng dầu nhập khẩu của cả nước là 3,75 triệu tấn, giảm 24%. Đơn giá nhập khẩu bình quân của nhóm hàng này giảm 4,1% nên trị giá nhập khẩu đạt 3,52 tỷ USD, giảm 1,31 tỷ USD tương đương 27,1%.
Lượng nhập khẩu xăng dầu của Việt Nam trong 6 tháng qua giảm mạnh chủ yếu từ thị trường chính là Singapore với lượng nhập khẩu đạt 1,1 triệu tấn, giảm 45%. Lượng nhập khẩu từ một số thị trường khác như: Trung Quốc: 597 nghìn tấn, giảm 7,6%; Đài Loan: 583 nghìn tấn, giảm 17%; Kuwait: 408 nghìn tấn, tăng 35,2%; Malaysia: 337 nghìn tấn, tăng 68,8%.
Nguồn: Vinanet.com.vn