Theo cập nhật từ Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh An Giang, giá gạo nguyên liệu xuất khẩu sáng 28/9 không có nhiều thay đổi. CL 555 được thu mua ở mức 8.700 - 8.800 đồng/kg, IR 504 ở mức 8.650 - 8.750 đồng/kg. Gạo nguyên liệu OM 5451 đạt 9.300 - 9.400 đồng/kg, Đài Thơm 8 ở mức 9.200 - 9.400 đồng/kg, OM 18 ở mức 8.700 - 8.850 đồng/kg. Trong khi đó, OM 380 và Sóc thơm cùng dao động 7.500 - 7.600 đồng/kg.
Ở phân khúc lúa tươi, giá tiếp tục đi ngang. Đài Thơm 8 có mức cao nhất, khoảng 6.100 - 6.200 đồng/kg; OM 18 và OM 5451 cùng ở mức 6.000 - 6.100 đồng/kg. Lúa IR 50404 được thu mua 5.900 - 6.000 đồng/kg, còn OM 34 ở mức 5.700 - 5.900 đồng/kg.
Thị trường đang bước vào giai đoạn chuyển tiếp giữa nguồn cung Hè Thu cuối vụ và lúa Thu Đông. Lượng lúa Hè Thu tại nhiều địa phương đã giảm, nhưng nguồn Thu Đông bắt đầu được đưa ra thị trường, giúp nguồn cung nguyên liệu duy trì tương đối ổn định. Do đó, giá lúa chưa xuất hiện động lực tăng mới rõ rệt.
Tại các chợ bán lẻ, giá gạo cũng ít biến động. Nhóm gạo thơm và đặc sản tiếp tục có giá cao hơn các loại gạo phổ thông. Nàng Nhen hiện ở mức 28.000 đồng/kg, Hương Lài và gạo Nhật cùng 22.000 đồng/kg; gạo thơm Thái hạt dài 20.000 - 22.000 đồng/kg. Jasmine ở mức 17.000 - 18.000 đồng/kg, OM 18 khoảng 15.500 - 16.500 đồng/kg, trong khi gạo thường phổ biến 14.000 - 15.000 đồng/kg.
Trên thị trường xuất khẩu, giá gạo Việt Nam có sự điều chỉnh giảm ở một số chủng loại. Theo Hiệp hội Lương thực Việt Nam, gạo Jasmine giảm 5 USD/tấn so với ngày trước, xuống 514 - 518 USD/tấn; gạo trắng 5% tấm giảm 2 USD/tấn, còn 420 - 424 USD/tấn. Gạo thơm 5% tấm giữ ở mức 526 - 530 USD/tấn.
So với Việt Nam, giá gạo trắng 5% tấm của Thái Lan cũng giảm 4 USD/tấn, xuống 466 - 470 USD/tấn; Pakistan giảm 3 USD/tấn, còn 422 - 426 USD/tấn. Ngược lại, giá cùng chủng loại của Ấn Độ tăng nhẹ 1 USD/tấn lên 382 - 386 USD/tấn; gạo đồ 5% tấm tăng 2 USD/tấn lên 378 - 382 USD/tấn.
Diễn biến giá xuất khẩu chưa tạo thêm lực kéo đáng kể đối với thị trường nội địa. Trong những phiên tới, giá lúa gạo nhiều khả năng vẫn phụ thuộc chủ yếu vào lượng lúa Thu Đông đưa ra thị trường và sức mua của các nhà máy. Nếu doanh nghiệp tăng thu mua phục vụ các đơn hàng cuối năm, giá gạo nguyên liệu có thể tiếp tục được hỗ trợ; ngược lại, nguồn cung Thu Đông tăng nhanh trong khi nhu cầu chưa cải thiện sẽ hạn chế khả năng tăng giá.