Động lực tăng trưởng chính vẫn nằm ở khối doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài (FDI). Xuất khẩu máy móc thiết bị của khối DN FDI trong tháng 7/2026 đạt 6,65 tỷ USD, tăng 10,46% so với tháng 6/2026 và tăng 31,39% so với tháng 7/2025. Tính chung, kim ngạch xuất khẩu máy móc thiết bị của khối DN này trong 7 tháng đầu năm 2026 đạt gần 38,38 tỷ USD, tăng 26,7% so với cùng kỳ năm 2025; chiếm tới 95,58% tổng trị giá nhập khẩu máy móc thiết bị của cả nước (mở rộng so với mức 94,01% của 7 tháng đầu năm 2025).
Kim ngạch xuất khẩu máy móc, thiết bị của Việt Nam (ĐVT: triệu USD)
 |
|
Nguồn: Cục Hải quan
|
Hoa Kỳ giữ vững vị thế là đối tác xuất khẩu máy móc, thiết bị lớn nhất của Việt Nam, với kim ngạch xuất khẩu 7 tháng đầu năm 2026 đạt 16,83 tỷ USD, tăng 26,6% so với cùng kỳ năm 2025; chiếm 41,92% tổng kim ngạch xuất khẩu máy móc thiết bị của cả nước (mở rộng so với mức 41,26% của cùng kỳ năm 2025). Riêng trong tháng 7/2026, xuất khẩu máy móc thiết bị sang Hoa Kỳ đạt 2,99 tỷ USD, tăng 13,26% so với tháng 6/2026 và tăng 50,38% so với tháng 7/2025.
Thị trường EU duy trì vị trí thị trường xuất khẩu máy móc thiết bị lớn thứ hai của Việt Nam với kim ngạch tháng 7/2026 đạt 771,15 triệu USD, tăng 9,92% so với tháng 6/2026 và tăng 29,32% so với tháng 7/2025. Lũy kế 7 tháng đầu năm 2026, tổng xuất khẩu máy móc sang thị trường này đạt 4,46 tỷ USD, tăng 11,34%, chiếm tỷ trọng 11,11% (thu hẹp so với mức 12,43% của 7 tháng năm 2025). Trong đó, các thị trường cửa ngõ như Hà Lan (1,43 tỷ USD, chiếm 3,55%) và Đức (946,17 triệu USD, chiếm 2,36%) ghi nhận mức tăng trưởng ổn định trong 7 tháng (lần lượt tăng 12,13% và 16,14%).
Xuất khẩu mặt hàng này sang Trung Quốc trong tháng 7/2026 đạt 686,20 triệu USD, tăng 24,42% so với tháng 6/2026 và tăng 24,76% so với tháng 7/2025. Lũy kế 7 tháng đạt 3,85 tỷ USD, tăng 34,72% so với cùng kỳ năm 2025. Tỷ trọng của Trung Quốc mở rộng từ 8,86% của 7 tháng đầu năm 2025 lên 9,58% trong 7 tháng đầu năm 2026.
Sang Hồng Kông trong tháng 7/2026 đạt 442,1 triệu USD, giảm 11,6% so với tháng 6/2026 và giảm 2,38% so với tháng 7/2025. Sự sụt giảm trong tháng 7 mang tính chất điều chỉnh kỹ thuật ngắn hạn sau giai đoạn tích trữ hàng hóa cao điểm ở các tháng trước. Tuy nhiên, xét theo lũy kế 7 tháng, đây là thị trường có tốc độ tăng trưởng rất cao, đạt 3,00 tỷ USD, tăng 57,73% so với cùng kỳ năm 2025, nâng tỷ trọng từ 5,90% trong 7 tháng năm 2025 lên 7,47% trong 7 tháng năm 2026.
Xuất sang ASEAN trong tháng 7/2026 đạt 415,81 triệu USD, giảm nhẹ 0,33% so với tháng 6/2026 nhưng tăng 32,35% so với tháng 7/2025. Lũy kế 7 tháng đầu năm 2026, tổng xuất khẩu máy móc sang thị trường này đạt 2,53 tỷ USD, tăng 23,29% so với cùng kỳ năm 2025, chiếm tỷ trọng 6,29%. Trong đó, Thái Lan (838,76 triệu USD, tăng 38,17%) và Singapore (634,18 triệu USD, tăng 17,47%) là hai đối tác lớn nhất. Nhu cầu nội khối ổn định nhờ các hiệp định thương mại tự do ATIGA và RCEP. Sự phục hồi của ngành sản xuất ô tô, điện tử tại Thái Lan và Malaysia (tăng 57,55% trong 7 tháng) đã thúc đẩy việc nhập khẩu linh kiện, máy móc phụ trợ từ Việt Nam.
Đáng chú ý, trong 7 tháng đầu năm 2026, các thị trường ghi nhận mức tăng trưởng ấn tượng so với cùng kỳ năm 2025 gồm: Kiecgikistan tăng 717,22%; Brunei tăng 368,67%; Na Uy tăng 143,21%; CH Tanzania tăng 108,08%; Tây Ban Nha tăng 77,65%; Australia tăng 76,28%. Ngược lại, xuất khẩu máy móc ghi nhận giảm mạnh sang một số thị trường Ukraine, Chile, UAE, Romania.