Hiện Pakistan, Nga, Đài Loan, Trung Quốc là những quốc gia và vùng lãnh thổ đứng đầu về nhập khẩu chè từ Việt Nam.
Trong 4 tháng đầu năm 2009, thị trường xuất khẩu chè nhiều nhất của Việt Nam là Pakistan, với lượng xuất 8.279 tấn, trị giá 11.530.145 USD, chiếm 29,5% trong tổng kim ngạch xuất khẩu mặt hàng chè của Việt Nam. Thị trường xuất khẩu lớn thứ hai là Nga, với lượng xuất 5.345 tấn, trị giá 6.368.298 USD, tăng 42,2% về lượng và 42,9% về trị giá. Xuất sang Trung Quốc tăng nhẹ, tăng 7,79% về lượng và tăng 7,50% về trị giá so với cùng kỳ, đạt 1.603 tấn, trị giá 1.795.536 USD.
Thị trường xuất khẩu chè 4 tháng đầu năm 2009
|
Thị trường XK |
Lượng (tấn) |
Trị giá (USD) |
|
Ấn Độ |
1.008 |
886.760 |
|
Arập xê út |
103 |
221.478 |
|
Ba Lan |
408 |
468.018 |
|
Tiểu VQ Arập TN |
174 |
238.257 |
|
Đài Loan |
4.400 |
5.345.650 |
|
Đức |
687 |
918.715 |
|
Hoa Kỳ |
1.149 |
1.112.935 |
|
Indonêsia |
1.058 |
780.637 |
|
Nga |
5.345 |
6.368.298 |
|
Pakistan |
8.279 |
11.530.145 |
|
Philippin |
132 |
410.161 |
|
Trung Quốc |
1.728 |
1.930.311 |
Theo số liệu của Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn, năm 2009, diện tích trồng chè của Việt Nam sẽ đạt 131,5 nghìn ha, tăng 1.900 ha so với diện tích năm 2007. Năng suất trồng chè năm 2009 dự kiến đạt 6,5 tấn búp tươi/ha, tăng so với mức 5,9 tấn/ha của năm 2007. Dự báo giá chè xuất khẩu trung bình của Việt Nam năm 2009 sẽ đạt mức 1.581 USD/tấn, tăng 3,2% so với năm 2008.