Cuộc đua trong ngành năng lượng 'giảm phát thải'
Dự báo quốc tế cho thấy nhu cầu hydrogen toàn cầu có thể tăng gần gấp 5 lần vào năm 2050; trong đó giao thông vận tải sẽ chiếm khoảng 40% tổng nhu cầu hydrogen. Chính vì vậy, hydrogen đang được nhiều quốc gia xem là “mảnh ghép” quan trọng trong lộ trình trung hòa các-bon và xây dựng nền kinh tế phát thải thấp.
Báo cáo Global Hydrogen Review 2025 của Cơ quan Năng lượng Quốc tế (IEA) công bố tháng 9/2025 cho thấy: nhu cầu hydrogen toàn cầu năm 2024 đạt gần 100 triệu tấn, tăng 2% so với năm 2023. Tuy nhiên, hydrogen phát thải thấp (bao gồm hydrogen xanh sản xuất từ điện phân nước bằng năng lượng tái tạo và hydrogen từ nhiên liệu hóa thạch có thu giữ các-bon) mới chỉ chiếm chưa đến 1% tổng sản lượng, dù đã tăng trưởng 10% trong năm 2024. Phần lớn hydrogen hiện nay (hydrogen xám/nâu) vẫn được sản xuất từ khí tự nhiên (290 tỷ m³) và than đá (90 triệu tấn quy đổi), phát thải một lượng CO2 đáng kể.
Cập nhật mới nhất của Global Hydrogen Review 2026 cho thấy sản lượng hydrogen phát thải thấp toàn cầu năm 2025 đạt gần 1 triệu tấn, tương đương hơn 1% sản lượng toàn cầu, tập trung chủ yếu tại Trung Quốc, châu Âu và Bắc Mỹ. Công suất điện phân nước (electrolyser) lắp đặt mới trong năm 2025 đã tăng gấp đôi so với năm trước, vượt mốc 4 GW, trong đó châu Âu dẫn đầu với khoảng 2 GW công suất mới. So với năm 2024 (công suất lắp đặt toàn cầu chỉ đạt 2 GW, với Trung Quốc chiếm tới 65% thị phần và gần 60% năng lực sản xuất thiết bị điện phân toàn cầu).
Về số lượng dự án và tổng vốn đầu tư, theo báo cáo của Hydrogen Council công bố vào tháng 9/2025, tổng vốn đầu tư cam kết (cho ngành hydrogen toàn cầu đạt 110 tỷ USD, tăng thêm 35 tỷ USD so với năm trước đó, với tốc độ tăng trưởng bình quân 50%/năm kể từ năm 2020. Toàn thế giới đã có hơn 500 dự án đạt các mốc triển khai thực chất, trong tổng số hơn 1.700 dự án hydrogen được công bố kể từ năm 2020 - tăng 7,5 lần. Trong đó, Trung Quốc dẫn đầu thế giới với tổng vốn cam kết cho ngành công nghiệp hydrogen đạt khoảng 33 tỷ USD, đứng thứ hai là khu vực Bắc Mỹ với số vốn xấp xỉ 23 tỷ USD và cuối cùng là châu Âu xấp xỉ khoảng 19 tỷ USD.
IEA ước tính sản lượng hydrogen phát thải thấp từ các dự án đã cam kết (đến năm 2030 đạt khoảng 4,2-4,3 triệu tấn/năm - gấp khoảng 5 lần mức năm 2024. Nếu các dự án đầu tư được triển khai đúng tiến độ trong giai đoạn 2026-2027, sản lượng có thể vượt 6 triệu tấn/năm bổ sung.
Báo cáo của Global Hydrogen Review 2026 của IEA cũng nêu ra tín hiệu tích cực về số liệu chi tiêu vốn thực tế. Theo đó, năm 2025, vốn chi thực tế cho các dự án hydrogen phát thải thấp đạt gần 7 tỷ USD, gần gấp đôi mức năm 2024. Dự báo năm 2026 sẽ đạt khoảng 10 tỷ USD, trong đó công nghệ điện phân nước (electrolysis) chiếm khoảng 70%, vượt qua công nghệ thu giữ các-bon (CCUS).
Tính đến đầu năm 2023, đã có hơn 40 quốc gia ban hành Chiến lược quốc gia về hydrogen kèm theo các chính sách hỗ trợ tài chính quy mô lớn. Trong đó, Hoa Kỳ đặt mục tiêu 10 triệu tấn hydrogen sạch/năm vào 2030 (mở rộng lên 50 triệu tấn vào 2050); Liên minh châu Âu (EU) hướng tới tỷ trọng hydrogen 13-14% trong cơ cấu năng lượng vào 2050; Nhật Bản và Hàn Quốc đặt mục tiêu hydrogen chiếm tương ứng khoảng 10% và 33% cơ cấu năng lượng vào 2050.
Riêng khu vực Đông Nam Á, theo IEA, nhu cầu hydrogen hiện tại vào khoảng 4 triệu tấn/năm, trong khi tiềm năng các dự án phát thải thấp đến năm 2030 mới chỉ đạt khoảng 480 nghìn tấn/năm.
“Mỏ vàng’ cần được ‘đánh thức”
Tại Việt Nam, Nghị quyết 70-NQ/TW về bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045 đưa ra quan điểm chỉ đạo: "Phát triển đồng bộ, hợp lý và đa dạng hóa các loại hình năng lượng; ưu tiên khai thác, sử dụng triệt để và hiệu quả các nguồn năng lượng tái tạo, năng lượng mới, năng lượng sạch..."
Với nhu cầu năng lượng cao để đáp ứng mục tiêu tăng trưởng hai con số của nền kinh tế, việc phát triển các nguồn năng lượng mới (năng lượng xanh) như hydrogen xanh hay amoniac xanh chính là một trong các giải pháp cốt lõi để giảm mạnh phát thải khí nhà kính, góp phần chống biến đổi khí hậu.
Tính đến nay, hydrogen sản xuất trong nước chủ yếu là hydrogen xám/nâu - sản phẩm phụ hoặc nguyên liệu trong quá trình lọc hóa dầu (Nhà máy lọc dầu Dung Quất, Nghi Sơn) và sản xuất phân đạm (Phú Mỹ, Cà Mau, Hà Bắc, Ninh Bình), chưa áp dụng công nghệ thu giữ các-bon, với sản lượng ước tính khoảng 500.000 tấn/năm.
Về hydrogen xanh sản xuất bằng điện phân nước từ năng lượng tái tạo, tính đến giữa năm 2026 Việt Nam mới chỉ có một dự án thí điểm quy mô rất nhỏ đang vận hành - nhà máy của Indefol/Edeflow tại Long An, công suất khoảng 1 MW trong khi chưa có dự án nào đạt quy mô thương mại đi vào hoạt động. Cùng với đó, một số doanh nghiệp đã và đang từng bước tham gia vào đầu tư dự án phát triển hydrogen.
Bên cạnh khối doanh nghiệp tư nhân, Tập đoàn Công nghiệp Than - Khoáng sản Việt Nam (TKV) cũng đã công bố lộ trình phát triển hydrogen và amoniac xanh riêng đến năm 2045, gắn với lợi thế quỹ đất bãi thải mỏ (hơn 41 triệu m²) và tiềm năng năng lượng tái tạo tại chỗ (3-5 GW) ở Quảng Ninh, trong đó đặt mục tiêu đến năm 2030, sử dụng khoảng 19.300 tấn hydrogen/năm và đến năm 2045 sẽ hình thành cụm công nghiệp hydrogen tích hợp tại Quảng Ninh và Tây Nguyên với tổng công suất sản xuất 136.000 - 494.000 tấn hydrogen xanh/năm.
Phát biểu tại Diễn đàn “Năng lượng Hydrogen và tương lai công nghiệp không phát thải” tổ chức ngày 29/7/2026, đại diện Vụ Dầu khí và Than (Bộ Công Thương) cho biết: Chiến lược phát triển năng lượng hydrogen đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2050 được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt tại Quyết định số 165/QĐ-TTg ngày 7/2/2024 tạo nền tảng quan trọng để hình thành hệ sinh thái hydrogen tại Việt Nam. Chiến lược đã định hướng phát triển đồng bộ chuỗi giá trị hydrogen từ sản xuất, lưu trữ, vận chuyển, phân phối đến sử dụng trên cơ sở khai thác hiệu quả nguồn năng lượng tái tạo, góp phần bảo đảm an ninh năng lượng, thúc đẩy tăng trưởng xanh và thực hiện mục tiêu phát thải ròng bằng 0 vào năm 2050.
Mục tiêu của Chiến lược đặt ra là đến năm 2030, sản lượng hydrogen xanh và hydrogen từ các quá trình có thu giữ các-bon đạt khoảng 100.000 - 500.000 tấn/năm; đến năm 2050 tăng lên 10 - 20 triệu tấn/năm, đồng thời từng bước hình thành thị trường hydrogen và phát triển xuất khẩu.
Để đạt mục tiêu này, đại diện Vụ Dầu khí và Than, Việt Nam cần phát triển đồng bộ hạ tầng lưu trữ, vận chuyển và phân phối hydrogen, đồng thời hoàn thiện cơ chế ưu đãi đầu tư, đào tạo nguồn nhân lực, thúc đẩy nghiên cứu, chuyển giao công nghệ và mở rộng hợp tác quốc tế. Đây được xem là những điều kiện tiên quyết để hình thành một ngành công nghiệp hydrogen có khả năng cạnh tranh trong khu vực.
Ở góc độ nghiên cứu, PGS. Phạm Hoàng Lương, Giảng viên cao cấp Đại học Bách khoa Hà Nội, Phó Chủ tịch VCEA cho rằng, hydrogen xanh sẽ đóng vai trò ngày càng quan trọng trong quá trình khử carbon ở những lĩnh vực khó điện khí hóa như luyện kim, hóa chất, giao thông vận tải đường dài hay sản xuất nhiên liệu. Không chỉ giúp giảm phát thải, hydrogen còn góp phần đa dạng hóa nguồn cung năng lượng, giảm phụ thuộc vào nhiên liệu hóa thạch và nâng cao khả năng chống chịu của hệ thống năng lượng trước các biến động của thị trường quốc tế.
Vì vậy, để hydrogen thực sự trở thành động lực tăng trưởng mới, Việt Nam cần sớm tháo gỡ những nút thắt về hạ tầng truyền tải điện, công nghệ điện phân, tiêu chuẩn kỹ thuật, cơ chế định giá và chính sách khuyến khích đầu tư. Đồng thời, cần đẩy mạnh hợp tác quốc tế, nghiên cứu khoa học và triển khai các dự án thí điểm để từng bước hình thành thị trường hydrogen trong nước.

Nguồn: Thái Bình/Báo Công Thương